Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Thiêm Túc

BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH THIÊM TÚC

No. 553

Đời Đường, Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch.
Đời Minh, Quảng Đông, núi Đỉnh Hồ, Sa-môn Hoằng Tán thuật.[1]Việt dịch: Quảng Minh.

Bat Nha Ba La Mat Da Tam Kinh Thiem Tuc

 

Đại khoa Tâm Kinh có hai phần: I. Giải thích đề mục, II. Giải thích kinh văn.

I. Giải thích đề mục:
1.Giải thích đề kinh:

Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh

 

Tám chữ đề kinh có hai nghĩa thông và biệt. Bảy chữ ‘Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm’ là biệt đề, riêng biệt với các kinh, vì tên gọi của các kinh thì khác nhau. Một chữ ‘Kinh’ là thông đề, thông chung với các kinh, vì những lời dạy của Phật được gọi chung là kinh.

Trong biệt đề lại có hai nghĩa: Sáu chữ ‘Bát-nhã Ba-la-mật-đa’ là pháp được nói; một chữ ‘Tâm’ là dụ được dẫn. Thế nên, kinh này lấy pháp và dụ làm tên gọi[2], lấy đại thừa làm giáo tướng[3], lấy Không làm tông[4], lấy Niết-bàn làm chỗ quy thú[5], lấy thật tướng làm thể[6], lấy quán chiếu làm dụng[7].

Theo ‘thông đề’ mà giải thích, kinh này lấy ‘gương thần’ làm thể[8], lấy ‘chuyển vận đến nơi’ làm dụng[9].

Theo ‘nhân quả’ mà giải thích, kinh này lấy Bát-nhã làm nhân[10], lấy Ba-la-mật-đa làm quả[11].

Bát-nhã có ba nghĩa: thật tướng, quán chiếuvăn tự.

Thật tướng bát-nhã: Là pháp thân. Bản thể chân không thì vốn không có danh tướng. Nay ở trong cái ‘không có danh tướng’, thiết lập ‘giả danh’ để bàn ‘thật tướng’, nên gọi là thật tướng; lấy ‘tâm nguyên’[12] rỗng lặng, vô tướng mà làm tướng, nên gọi là thật tướng. Chân tánh được quán chiếu ấy chính là bản giác, là chân tâm mà rỗng lặng, linh giác, không ngu tối[13], chẳng phải ‘tịch’, chẳng phải ‘chiếu’, lý tánh thường trú, bản thể tách rời các pháp sanh diệt, nhiễm tịnh, hư vọng, v.v…

Quán chiếu bát-nhã: Là hoạt dụng được phát khởi từ bản thể của thật tướng, tức là diệu tuệ của chủ thể quán chiếu. Bởi vì pháp tánh thì sâu xa khó hiểu, nếu chẳng phải tuệ giác bát-nhã thì chớ có thẩm sát. Chư Phật lấy tuệ giác bát-nhã để diệu khế pháp thân. Hàng Bồ-tát lấy tuệ giác bát-nhã để đốn chứng chân không. Tuệ giác ấy chính là trí Vô phân biệt[14] sẵn có nơi mỗi người, nó chẳng chiếu mà thường chiếu, và khi chiếu soi thì thấy rõ ràng: tất cả các pháp đều là chân không, vô minh tức là thật tướng, cho nên nói, ‘sắc tức là không’.

Văn tự bát-nhã: Văn tự là những lời dạy của chư Phật về đạo lý chân thật, nhưng văn tự ấy là tánh không. Thể của ‘tánh không’ tức là bát-nhã. Thế nên, giáo lý của tông Thiên Thai cho rằng, ‘Văn tự là sắc pháp; sắc pháp ấy chính là thật tướng.’ Kinh Thiên Vương Bát-nhã có ghi: “Tổng trì không văn tự, Văn tự hiển tổng trì.[15] Đó là vì văn tự có thể hiển thị công đức của hai thứ bát-nhã là thật tướngquán chiếu.

Bát-nhã tuy có ba mà vốn cùng một tướng, đó là ‘vô tướng’. Vô tướng tức là bản thể chân không của ‘Đại giác viên thường’[16]. Đại giác ấy có đủ ba đức, gọi là ba bát-nhã: thật tướng, quán chiếuvăn tự (: phương tiện). Nếu có thể nhất niệm chánh quán, viên tu, thấu rõ ‘các pháp đều không’, đó là viên chứng cứu cánh Niết-bàn.

Phạn ngữbát-nhã, Trung Hoa dịch là ‘trí tuệ’. Trí, là trí thật tướng, trí vô phân biệt. Tuệ, là diệu tuệ trong trí vô phân biệt, cũng gọi là tịnh tuệ, cũng gọi là tuệ vô tướng. Lại nữa, tuệ tức là trí, nên Luận Thành Thật có nói: “Chân tuệ gọi là trí.[17] Trí tuệ như thế, thể tánh của nó viên dung, chiếu dụng tự tại, có thể tột cùng đáy nguồn của thật tướng các pháp, là sự xưng tán tuyệt vời của huyền diệu ‘siêu tình ly kiến’[18], là trí chẳng đồng với trí thế gian, là tuệ của thông tuệ[19].

Trí tuệ thế gian là từ thức tâm[20] phát sanh, rồi phân biệt trần cảnh, chấp thủ danh ngôn[21], phát sanh tri kiến sai lầm mà làm cội gốc của hữu lậusanh tử, nó không thể phá vô minh hoặc[22] để hiển lộ lý ‘thật tướng’. Sợ người đời tùy tiện nói về trí tuệ, cho nên giữ Phạn âm, không dịch qua Hoa ngữ.  Xét về thật tướng của bát-nhã, không có sự vật gì biểu trưng cho bản thể của nó, không có khái niệm nào diễn tả tên gọi của nó, cho nên miễn cưỡng gọi là bát-nhã vậy.

Phạn ngữba-la-mật-đa, Trung Hoa dịch là ‘bỉ ngạn đáo’. Nếu thuận theo văn pháp Trung Hoa thì là ‘đáo bỉ ngạn’ (: đến bờ bên kia), đó là nghĩa rốt ráo và toàn hảo của ‘thật tế của các pháp’[23]. Lấy sanh tử làm ‘bờ bên này’, lấy phiền não, vọng niệm làm dòng chảy trong biển khổ, lấy biên tế của chân không làm ‘bờ bên kia’, còn bát-nhã là thuyền bè chuyên chở. Thế nên, người thực hành bát-nhã [ba-la-mật-đa] sâu xa, thì quán chiếunăm uẩn đều không’, [cho đến] ‘sự diệt tận của vô minh’, thấy ‘phiền não tức thật tướng’, ‘sanh tử tức Niết-bàn’, vượt qua biển ‘hai chết’[24], đến được bờ ‘ba đức’[25], gọi là ‘đáo bỉ ngạn’. Người mê lầm bát-nhã, thì phân biệt đủ thứ, vọng chấp thân tâm là thật có, rồi thì bỏ mất tuệ quang, không biết thật tướng của các pháp, gọi là ‘đứng ở bờ bên này’. Thế nên, Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn có nói: “Tôi xét thấy tất cả chúng sanh đều có trí tuệ và đức tướng của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng đắc.[26] Nói tổng quát, do tình ý chưa hết nên cách xa bờ bên kia; vất bỏ tình của phàm Thánh, liền đến bờ bên kia.  Không có sự phân biệt thì là ‘đến’ vậy.

Tâm: Thí như ‘tâm người’, yếu tố trong cái thân ‘bốn đại trăm xương’. Tâm là ‘dụ’ của kinh này, mà kinh này là tông yếu quy thú của kinh Đại Bát-nhã sáu trăm quyển. Nếu thấu suốt kinh này thì sáng tỏ kinh Đại Bát-nhã sáu trăm quyển vậy. Có người cho rằng chữ ‘tâm’ này là chữ ‘tâm’ của chữ ‘trung tâm’[27], nghĩa là kinh này là ‘trung tâm’ (: tinh túy) của kinh Đại Bát-nhã sáu trăm quyển; đây là lầm vậy. Hoặc có người cho rằng là chữ ‘tâm’ của chữ ‘chân tâm’, nhưng kinh Đại Bát-nhã sáu trăm quyển đều bàn luận về chân tâm, chẳng phải riêng kinh này, bởi vì ‘Bát-nhã tức là Tâm[28] vậy.

Tâm có thể và dụng. Thật tướng là thể. Quán chiếu là dụng. Lấy dụng quy về thể, đó gọi là ‘đến bờ bên kia’. Thế nên, Đại Thừa Khởi Tín Luận Liệt Võng Sớ có ghi: “Tự tâm khởi đức tin, trở lại tin vào tự tâm.[29] Tự tâm tức là thể. Khởi đức tin tức là dụng. Trở lại tin vào tự tâm tức là lấy dụng quy về thể.

Hoa Nghiêm Biệt Hành Sao ghi rằng: “Trí là dụng của lý. Thể của lý thành trí, [trí] trở lại soi sáng lý. Trí cùng lý kết hợp, mới gọi là chân trí.Chân trí tức là thật tướng bát-nhã. tức là lý của chân không. Thế nên, Kinh [Hoa Nghiêm] có nói: “Không có trí ở ngoài chân như mà chứng được chân như; cũng không có chân như ở ngoài trí để cho trí thể nhập.Thể nhậplấy dụng quy về thể.

Huống chi ba tông: Tánh, Tướng, Không, mỗi tông có khác biệt[30], không được nhầm lẫn.  Nhưng kinh Bát-nhã sáu trăm quyển đều có một tướng là ‘vô tướng’ thuộc Không tông. Bát-nhã ấy tức là bản thể chân không, thế nên kinh Đại Bát Niết-bàn ghi: “Phật tánh gọi là Đệ nhất nghĩa Không. Đệ nhất nghĩa Không gọi là trí tuệ.[31] Như vậy, nói ‘trí tuệ’ là đủ rồi, không cần nói riêng ‘tâm tánh’. Nếu nói ‘tâm tánh’ thì thành ‘pháp thật’. Đã dính líu đến ‘pháp thật’, thì chẳng phải ‘Không’ vậy.

Hoặc có người gọi là Tát-bà-nhã tâm[32], vốn chẳng phải tựa đề của kinh, bởi vì ngoài tâm không có bát-nhã, ngoài bát-nhã không có tâm. Tâm khônghình tướng, nên nói là bát-nhã. Bát-nhã thì rất sâu xa, rất mầu nhiệm, cần gì nói đến ‘tâm’ nữa.

Kinh: Phạn ngữtu-đa-la (: Sūtra), Trung Hoa dịch là khế kinh, nghĩa là trên khế hợp với giáo lý của chư Phật, dưới khế hợp với căn cơ của chúng sanh. Nay người ta tỉnh lược nó, gọi là kinh. Kinhgiáo lý, là những lời dạy của Phật, giáo huấn về thườngnhiếp.[33] Thường, là nghĩa bất biến: xưa nay tuy khác nhưng giác đạo[34] không đổi, tà ma không thể ngăn cản, chúng Thánh không thể làm khác.  Nhiếp, là quán nhiếp lý huyền vi, để khai mở người chưa ngộ, cùng thoát bến khổ, bước lên bờ giác. Thế nên có ai ngộ được tựa đề kinh này thì đã ‘đến bờ bên kia’ vậy.[35]

 

  1. Giải thích tên người dịch:  

Đường Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch.

Đời Đường, Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch.

 

Đường là quốc hiệu.

Tam tạng là kinh, luật và luận.

Pháp là quỹ (軌: phép tắc); là phạm (範: mẫu mực). Pháp sư là bậc Thầy phép tắc mẫu mực, lấy giáo pháp mà dạy người vậy.

Huyền Trang là tên gọi của Pháp sư. Sư vốn tên Huy, họ Trần, hậu duệ của Thái khưu Trần Trọng Cung thời nhà Hán, con của ông Tuệ Anh, người khước từ làm quan. Khi mang thai, mẹ sư nằm mộng thấy người áo trắng [nên đặt tên là Huy (褘: tế phục của vương hậu)]. Năm 11 tuổi, sư theo gót người anh thứ hai là pháp sư Trường Tiệp mà xuất gia, hằng ngày tiếp nhận những tinh hoa giáo lý.  Năm 23 tuổi, sư thăng tòa giảng pháp, lời lẽ và nghĩa lý thật tuyệt diệu. Sư tự nghĩ quốc độ này kinh pháp chưa hoàn bị, bèn đi đến Tây Thiên để học tụng tam tạng, rồi mang kinh, luật, luận bằng Phạn văn về nước Đường, phụng chiếu dịch[36] ra Hoa văn.

Tâm Kinh này trước sau có sáu bản dịch[37]. Bản Tâm Kinh được chú giải này là bản do Huyền Trang dịch. Dịch, nghĩa là chuyển (: truyền), là chuyển từ ngôn ngữ Tây Thiên sang ngôn ngữ Đông Hoa.


II.    
Giải thích kinh văn:
1.     Hiển thuyết bát-nhã:

(1) Từ người mà hiển thị pháp:

  1. a.     Người năng tu:

Quán Tự Tại Bồ-tát

Bồ-tát Quán Tự Tại

 

Năm chữ này có chung riêng. Hai chữ Bồ-tátchung, gọi chung cho các vị Bồ-tát. Ba chữ Quán Tự Tạiriêng, tên riêng của Bồ-tát. Tiếng Phạn là Bà-lô-chỉ-đề-thấp-phạt-la[38], Trung Hoa gọi là Quán Tự Tại. Nếu phiên âm là A-da-sa-bà-cát-đê-thâu[39], Trung Hoa gọi là Quán Thế Âm.  Chữ Phạn vốn có hai cách nên có hai tên, cũng như tông chỉ mỗi kinh có khác nhau. Nếu từ nhĩ cănngộ nhập, thì như trong Kinh Lăng Nghiêm, “Bồ-tát [Quán Thế Âm] từ văn, tư, tu mà nhập tam-ma-địa[40]; như trong Kinh Đại Bi, “Bồ-tát [Quán Thế Âm] vừa nghe thần chú này, liền vượt lên địa thứ tám.[41] Đó đều là từ nhĩ cănngộ nhập Vô sanh nhẫn[42], gọi là Quán Thế Âm. Từ thể khởi dụng, cho nên nói “nghe thấy âm thanh kia, họ liền được giải thoát.[43] Sáu căn hỗ dụng, cho nên nói “hiện ngàn tay mắt, soi giữ mọi loài.” Nơi kinh này nói ‘soi thấy năm uẩn đều Không, vượt mọi khổ ách’, tức là từ nhãn căn mà chứng nhập, nên gọi là Quán Tự Tại.

Nhưng ở đây còn có ý nghĩa ‘tự hành hóa tha’[44] qua năng sở (chủ thể và đối tượng). Chữ Quán mà đọc theo bình thanh là Quan[45], tức thuộc ‘chủ thể quan sát’. Chữ Thế Âm thuộc đối tượng quan sát, tức chúng sanh được hóa độ. Thế nên Kinh Pháp Hoa dạy: “Chúng sanh một lòng xưng danh, thì Bồ-tát Quan Thế Âm tức thời nghe thấy âm thanh kia, đều được giải thoát.” Đây chính là ‘hóa tha’ qua năng sở vậy. Kinh Lăng Nghiêm ghi: “Do tôi thấy nghe thấu suốt mười phương, nên tên gọi Quan Âm cùng khắp mười phương thế giới.[46] Đây là bao gồm hai căn: mắt và tai, nên nói ‘thấy nghe’, và đều thuộc ‘tự hành’. Kinh Đại Bi nói cả hai danh hiệu: Quan ÂmTự Tại[47], tức thuộc ‘tự tha’. Theo sự giải thích của ngài Ôn Lăng[48], Quan Âm quan sát ngôn ngữ âm thanh thế gian, được gọi là bậc Viên ứng viên ngộ[49]. Ở đây cũng gồm ‘tự hành hóa tha’.

Tuy nhiên, về mặt ‘tự hành’, chữ Quán nên đọc theo khứ thanh, nghĩa là Bồ-tát này dùng quán tuệ bát-nhã[50]soi thấy thân tâm năm uẩnkhông tịch, vượt qua mọi khổ ách’, liền giải thoát sanh tử, được đại an lạc, cho nên gọi là Tự Tại. Đại sư Giao Quang[51] cho rằng, chữ Quán, dân gian thường hiểuQuan (bình thanh), nhưng thật ra là Quán (khứ thanh). Bởi vì ‘tiếp nhận âm thanh’ là nghe, ‘thông suốt sự lý’ là quán, nhưng chỉ chọn ‘thông suốt sự lý’, cho nên đối với âm thanh không nói ‘nghe’ mà gọi là ‘quán’. Cũng nên hiểu rằng, nơi nhân địa gọi là tự hành, nơi quả địa gọi là hóa tha. Việc chính yếu của Bồ tát là làm lợi ích cho chúng sinh, hẳn gồm hóa tha, mới tương ứng với danh hiệu Bồ-tát.

Chữ Bồ-tát là tiếng Phạn, nói đầy đủ là Bồ-đề-tát-đõa. Bồ-đề, Trung Hoa dịch là giác. Tát-đỏa, dịch là hữu tình. Tựu trung, Bồ-tát cũng có hai nghĩatự hành và hóa tha. Về mặt ‘tự hành’, Bồ tát đã đủ trí giác ngộ, nhưng tập khí hữu tình chưa hết hẳn[52]. Về mặt ‘hóa tha’, Bồ-tát đem tâm bi mẫn để khai mở tuệ giác cho tất cả hữu tình thấy được đại đạo. Hợp cả hai nghĩa gọi là Bồ-tát.

 

  1. b.     Pháp sở tu:

          Hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời

          Khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa.

 

Hành tu hành, tức đi vào hành pháp quán tâm.

Thâm sâu xa, tức chân không bát-nhã, không phải đối tượng biết đến của tâm, không phải ý thức nhận biết.

Bát-nhã, đại khái về giáo lý thì có hai cấp độ: sâu xa (: thâm) và cạn cợt (: thiển). Cấp độ cạn cợt được gọi là nhân không bát-nhã, là sự chứng ngộ của nhị thừa. Cấp độ sâu xa được gọi là pháp không bát-nhã, là sự thể nhập của Bồ-tát. Chân không thật tướng ấy không phải sự thực hành của hàng nhị thừathiên không, tiểu trí[53], nên nói là ‘sâu xa’.

Thời là sự chứng nhập bản thể chân không [xảy ra] ở thời gian một sát-na. Bồ-tát dùng trí Vô phân biệt soi rõ thân tâm năm uẩn rỗng không, vắng lặng, tánh tướng đều Không, ngay trong thời gian một sát-na sau cùng thì chứng nhập bản thể chân không, đó được gọi là ‘từ thể khởi dụng’ nên ‘vượt qua mọi khổ ách’. Về ‘thời gian một sát-na’, kinh Đại Bát-nhã nói: “Đều lấy vô tánh mà làm tự tánh, dùng một sát-na tương ưng diệu tuệ thì chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.[54]

  1. c.      Địa vị tu chứng:

          Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

          Soi thấy năm uẩn đều Không, vượt mọi khổ ách.

 

Chiếu kiến: Là tâm năng quán nhập.

Ngũ uẩn: Là cảnh sở quán nhập.

           Bồ-tát lấy diệu tuệ soi thấy tự tánh của năm uẩn, đương thể đều là chân không, thế nên khác biệt với hàng Nhị thừa ‘diệt sắc cầu Không’. Khi chứng ngộ chân không thì năng sở đều quên mất vậy.

            Xét mặt ‘quả’, chữ chiếu tức là chữ quán trong Quán Tự Tại. Xét trên ‘nhân’, đó là thời điểm ‘suất nhĩ tâm’[55] của chúng ta, là hiện lượng[56], là không khởi phân biệt. Thế nên, một chữ chiếu này chính là yếu thuật ‘hạ thủ công phu’ đầu tiên của sự tu hành bát-nhã, là trí Vô phân biệt. Người nào ‘soi chiếu mà thấy rõ’ thì sự thấy của người ấy không phải nhãn căn và đối tượng thấy của nhãn thức, mà là hiện lượng ngay trước mắt. Đối với tất cả pháp mà đạt được tự tánh của các pháp, thì không thấy ‘bụi trần’ nào có thể thủ đắc, gọi là ‘không thấy sắc, không thấy thọ, tưởng, hành, thức’[57], nhưng không phải ‘không thấy’. Thấy tức là không thấy. Do năm uẩn vốn Không, chính là thật tướng. Thật tướngvô tướng, nên không thể thấy. Không thể thấy mà thấy thấu suốt pháp giới. Chẳng những không thấy các pháp thế gian, mà đối với các pháp xuất thế gian như: thiền định, trí tuệ, giải thoát, tam muội, Vô thượng Chánh giác Bồ-đề, Niết-bàn, v.v… thảy đều Không, cho nên ‘không thấy’. Các pháp không phải là đối tượng của sự thấy, gọi là chiếu kiến. Đó là sự thấy biết thật tướng của các pháp vậy. Vừa chớm thấy gì là rơi vào hang ổ vọng tưởng, vô minh rồi vậy.

            Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hảnh, thức vậy. Uẩn có nghĩa là ‘tích tụ’. Các chúng sanh do năm pháp này tích tụthành thân [tâm]. Và do thân này tích tụ vô lượng trần lao phiền não nên nhận chịu vô lượng khổ đau trong sanh tử luân hồi. Ngũ uẩn còn gọi là ngũ ấm, là do tích tụ vọng tưởng phiền não nên che lấp chân tánh sáng suốt sẵn có.

            Sắc có cái nghĩa chất ngại[58], là thân này vay mượn nhân duyên của bốn đại: đất, nước, lửa, gió, mà hợp thành hình hài giả huyễn, và khí thế giới ở ngoài thân như núi, sông, đất bằng. Hễ cái gì có hình tướng đều gọi là sắc.

            Thọ có cái nghĩa lãnh nạp[59], là sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, lãnh nạp sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc.

            Tưởng có cái nghĩa thẩm tư thủ tượng[60], tức ý thức duyên ảnh tượng của sáu trần cảnh.

            Hành có cái nghĩa tạo tác, tức ý thức suy nghĩ về sáu trần cảnh và tạo tác các hành nghiệp thiện ác.

            Thức có cái nghĩa liễu biệt[61], gọi là tâm vương. Thọ, tưởng và hành đều là tâm sở.

          Ngũ uẩn là gọi chung cho hai pháp: thân và tâm. Thân tâm ấy như huyễn, như hóa, sanh ra từ nhân duyên, vốn không có tánh thật, cho nên đức Phật nói thí dụ cho Bình Sa Vương: ‘Sắc như bọt nước[62], thọ như bong bóng nước[63], tưởng như sóng nắng[64], hành như thân cây chuối[65], thức như huyễn sự.[66][67]

          Bồ-tát dùng trí bát-nhã quán năm uẩn này: Sắc từ bốn đại giả hợp mà có; thọ, tưởng, hành, thức do vọng tưởng cảnh giới mà sanh. Bốn đạivọng tưởng vốn không có tự tánh[68], ‘đương thể tức Không’[69], nên nói ‘giai Không’. Chẳng phải hoàn toàn diệt mất không còn gì, mới gọi là Không; cũng không phải có cách gì khiến nó thành Không, bởi vì nó vốn ‘tự Không’[70]. Chúng sanh không hiểu ‘bóng trăng trong nước, hoa đốm hư không’[71], nên chấp huyễn hữu của hình hài năm uẩn, mê chân không nơi tự tánh. Bản thể của chân không và huyễn hữu vốn không khác nhau, chỉ theo cái thấy của phàm Thánh mà có khác nhau. Nếu lấy vọng tâm phân biệt thì thấy năm uẩn, bỏ chân không. Nếu lấy bát-nhã quán thì chân không hiển lộ, năm uẩn quên mất. Thế nên, một khi chân không hiển lộ, thì huyễn hữu đều diệt mất, tức là ‘năm uẩn đều Không thì khổ ách được thoát’. Đó là ‘đến bờ bến kia’ vậy.

          Độ là thoát, vượt qua.

Nhất thiết khổ ách là mọi hình thái khổ của thế gianxuất thế gian.

Bài viết liên quan

Kinh Đại Bát Niết Bàn

Kinh Đại Bát Niết Bàn Lời Giới Thiệu Giới Thiệu Bản Dịch Kinh 1. Phẩm Thọ Mạng 2. Phẩm Thân Kim Cang 3. Phẩm Công Đức Danh Tự 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 1-4 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 5-7 5. Phẩm Đại Chúng Thưa Hỏi 6. Phẩm Thị Hiện Bệnh 7. Phẩm Thánh Hạnh 8. Phẩm Hạnh Thanh Tịnh 9. Phẩm Hạnh Anh Nhi 10. Phẩm Bồ Tát Quang Minh 11. Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống 12. Phẩm Bồ Tát Ca Diếp 13. Kiều-trần-như Hậu Phần Kinh Đại Bát Niết-bàn Phụ Lục     KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến  

Xem thêm

Kinh Đại Báo Tích

Kinh Đại Báo Tích Lời Nói Đầu Của Dịch Gỉa 01. Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi 02. Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm 03. Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ 04. Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử 05. Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai 06. Pháp Hội Bất Động Như Lai 07. Pháp Hội Mặc Giáp Trang Nghiêm 08. Pháp Hội Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt 09. Pháp Hội Đại Thừa Thập Pháp 10. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn 11. Pháp Hội Xuất Hiện Quang Minh 12. Pháp Hội Bồ Tát Tạng 12.01. Phẩm Khai Hoá Trưởng Giả Thứ Nhất 12.02. Phảm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký Thứ Hai 12.03. Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát Thứ Ba 12.04. Phẩm Như Lai Bất Tư Nghì Tánh Thứ Tư 12.05. Phẩm Tứ Vô Lượng Thứ Năm 12.06. Phẩm Đàn Na Ba La Mật Đa Thứ Sáu 12.07. Phẩm Thi La Ba La Mật Thứ Bẩy 12.08. Phẩm Sằn Đề Ba La Mật Thứ Tám 12.09. Phẩm Tỳ Lê Gia Ba La Mật Thứ Chín 12.10. Phẩm Tĩnh Lự Ba La Mật Thứ Mười 12.11. Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Thứ Mười Một 12.12. Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký Thứ Mười Hai 13. Pháp Hội Phật Thuyết Nhơn Xử Thái 14. Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng 15. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký 16. Pháp Hội Bồ Tát Kiến Thiệt 16.01. Phẩm Tự 16.02. Phẩm Tịnh Phạn Vương Đến Phật 16.03. Phẩm A Tu La Vương Thọ Ký 16-04 Phẩm Bổn Sự 16-05 Phẩm Ca Lâu La Vương Thọ Ký 16-06 Phẩm Long Nữ Thọ Ký 16-07 Phẩm Long Vương Thọ Ký 16-08 Phẩm Cưu Bàn Trà Thọ Ký 16-09 Phẩm Càn Thát Bà Thọ Ký 16-10 Phẩm Dạ Xoa Thọ Ký 16-11 Phẩm Khẩn Na La Vương Thọ Ký 16-12 Phẩm Hư Không Hành Thiên Thọ Ký 16-13 Phẩm Tứ Thiên Vương Thọ Ký 16-14 Phẩm Tam Thập Tam Thiên Thọ Ký 16-15 Phẩm Dạ Ma Thiên Thọ Ký 16-16 Phẩm Đâu Xuất Đà Thiên Thọ Ký 16-17 Phẩm Hoá Lạc Thiên Thọ Ký 16-18 Phẩm Tha Hoá Tự Tại Thiên Thọ Ký 16-19 Phẩm Chư Phạm Thiên Thọ Ký 16-20 Phẩm Quang Âm Thiên Thọ Ký 16-21 Phẩm Biến Tịnh Thiên Thọ Ký 16-22 Phẩm Quảng Quả Thiên Thọ Ký 16-23 Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Tán Kệ 16-24 Phẩm Giá La Ca Ba Lợi Bà La Xà Ca Ngoại Đạo 16-25 Phẩm Lục Giới Sai Biệt […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Pháp Luân

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂNBản gốc: bản khắc gỗ Càn LongTam Tạng An Thế Cao đời Hậu Hán An Tức dịch.   Nam mô Bổn Sư Thích Mâu Ni Phật, Nhân dịp kỷ niệm ngày Phật thành đạo ( Phật lịch 2561 – 2017), Phật tử Hoàng Phước Đại, Pháp danh Đồng An, xin gửi đến […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

KINH CHUYỂN HÓA BẠO ĐỘNG VÀ SỢ HÃI(Duy Lâu Lạc Vương Kinh)Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198tương đương với Attadanda Sutta, Sutta-Nipàta 935-9544   Bối Cảnh Đây là kinh Duy Lâu Lặc Vương. Duy Lâu Lặc Vương là tên của vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka), người kế vị vua Ba […]

Xem thêm

Kinh Chánh Kiến

LỜI BAN BIÊN TẬP: Trong các thuật ngữ Phật Giáo, có lẽ không có thuật ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế" hay còn gọi “Chân […]

Xem thêm