Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh Trực Thuyết

 

BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA TÂM KINH TRỰC THUYẾT

般若波羅蜜多心經直說

No.542

 

Đời Minh, Sa-môn Thích Đức Thanh ở chùa Hải Ấn, núi Na-la-diên soạn thuật.[1]

Việt dịch: Quảng Minh

 

          Xét tựa đề kinh này: Vì sao gọi là Bát-nhã? Đó là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Trí tuệ. Vì sao gọi là Ba-la-mật-đa? Cũng là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là ‘đáo bỉ ngạn’ (: đến bờ bên kia), nghĩa là, khổ thú trong sanh tử, giống như biển cả, mà chúng sanh nơi ấy, tình áitư tưởng thì không có giới hạn, vô minh bất giác[2], tâm ý phóng túng rong ruỗi, sanh khởi mê hoặc, tạo tác hành nghiệp, lưu chuyển trong [biển] sanh tử, quả khổ không dứt, không thể vượt qua, cho nên nói là ‘bờ bên này’ (: thừ ngạn). Chỉ có đức Phật đem ánh sáng ‘đại trí tuệ’ chiếu phá tình trần[3], đoạn dứt phiền não, các khổ đều hết, hai chết[4] mất hẳn, vượt thoát biển khổ, chứng lên Niết-bàn, cho nên nói là ‘bờ bên kia’ (: bỉ ngạn).

          Cái gọi là Tâm, chính là cái Tâm của Đại trí tuệ đến bờ bên kia, chẳng phải cái tâm khối thịt[5] hay cái tâm vọng tưởng[6] của người đời. Do người đời không biết mình vốn có cái Tâm của Ánh sáng trí tuệ, nên chỉ nhận bóng dáng của vọng tưởng phan duyên, rồi nương tựa cái tâm khối máu thịt ấy làm chân tâm. Sở dĩ chấp cái thân thể máu thịt làm sự hiện hữu của ngã, là để nương nơi đó mà tạo tác các thứ ác nghiệp. Ý niệm rong ruổi, chưa từng có một khoảnh khắc ‘hồi quang phản chiếu’[7] để tự giác về Tâm. Ngày tháng chồng chất, từ sanh đến chết, từ chết đến sanh, toàn là nghiệp chướng, đều là đau khổ, làm sao vượt thoát? Chỉ có đức Phật của chúng ta và các bậc Thánh có thể tự mình giác ngộ ‘bản chân’[8], lấy trí tuệ chiếu phá thân tâm năm uần[9], [rằng là] xưa nay chẳng có, đương thể toàn Không[10], bước lên ngay ‘bờ bên kia’, vượt qua ngay ‘biển khổ’. Vì thương xót những kẻ mê, đức Phật và các bậc Thánh đem pháp môn ‘tự chứng’ để chỉ dạy cho họ, muốn mọi người đều tự chứng ngộ [rằng], trí tuệbản hữu[11], vọng tưởng toàn hư dối, thân tâm đều trống không, thế giới như huyễn ảo, không làm các điều ác, rời xa đường sanh tử. Vì muốn chúng sanh ra khỏi biển khổ, đạt đến cái vui Niết-bàn mà đức Phật nói kinh này. Kinh là lời dạy của Thánh nhân, là ‘thường pháp’[12] [của chư Phật] từ xưa tới nay vậy.

 

Bồ-tát Quán Tự Tại khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều Không, vượt mọi khổ ách.

Quán Tự Tại bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時, 照見五蘊皆空, 度一切苦厄.

 

          Bồ-tát, là người (: nhân) – chủ thể tu hành.

          Bát-nhã [ba-la-mật-đa] sâu xa, là pháp – đối tượng tu hành.

          Soi thấy năm uẩn đều Không, là phương pháp tu hành.

          Vượt mọi khổ ách, là hiệu quả thật sự của sự tu hành.

          Vị Bồ-tát này nghe được pháp Bát-nhã sâu xa từ đức Phật, rồi tư duythực hành, lấy trí tuệ quán chiếu, soi thấy năm uẩn trong ngoài là một khối trống không; thân tâmthế giới [của thân tâm] rõ ràng không có vật gì; bỗng nhiên siêu việt thế gianxuất thế gian, vĩnh viễn rời xa các khổ ách, đạt được sự tự tại lớn lao. Do sự quán sát ấy, Bồ-tát nương đây mà độ thoát, và biết rằng mọi người đều có thể nương đây mà tu hành vậy. Thế nên, đức Thế Tôn đặc biệt chỉ dạy tôn giả [Xá-lợi-phất] về diệu hạnh của sự ‘quán xét âm thanh’ để thấu hiểu mọi người. Chúng ta nếu có thể thực hành được pháp quán chiếu như thế, thì một niệm đốn ngộ tự tâm mà vốn sẵn có ánh sáng trí tuệ. Sự linh thông[13] quảng đại của trí tuệ ấy có thể soi thấu ‘năm uẩn toàn Không’, ‘bốn đại chẳng có’, thì có khổ đau gì không vượt qua được? Lại nữa, nghiệp lụy[14] vây kéo, tranh cãi ‘nhân ngã phải trái’, so đo ‘cùng thông được mất’, vấn vít ‘giàu sang nghèo hèn’, thì tâm ta như thế nào? Trên đây chính là hiệu quả thật sự của việc Bồ-tát học Bát-nhã vậy. Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Soi thấy trí năng quán. Năm uẩn là cảnh sở quán. Đều Khônghiệu quả thật sự [của sự quán chiếu].

 

Xá-lợi tử 

Xá-lợi tử 

舍利子.

 

Đây là tên một đệ tử của Phật. Xá-lợi là tiếng Phạn, Trung Hoa gọi là Thu[15]. Mắt con chim thu rất sáng long lanh. Cặp mắt của mẹ tôn giả giống như mắt chim thu, cho nên được đặt tên là Thu. Tôn giả chính là con của bà Thu, nên gọi là Xá-lợi tử (: Thu tử). Trong các đệ tử của Phật, tôn giả xếp vào hàng trí tuệ đệ nhất. Đối với pháp môn bát-nhã rất là sâu xa, nếu không phải là bậc đại trí tuệ thì không thể lãnh ngộ được, thế nên đức Phật đặc biệt dạy bảo cho tôn giả, cái gọi là ‘trao cho con đường của bậc trí’.

 

Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc; sắc tức là Không, Không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức, cũng lại như vậy.

Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị khôngkhông tức thị sắcThọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識。亦復如是。

 

Đoạn này là đức Phật giảng giải cho tôn giả Thu tử về ý nghĩa ‘năm uẩn đều Không’. Trong năm uẩn, trước hết là nói về sắc uẩn. Sắc chính là thân tướng của con người. Bởi vì có thân này mà mọi người chấp nó làm sở hữu của mình. Đó là vọng tưởng bị ngưng kết thành khối cứng chắc, gọi là ‘căn bản của ngã chấp’ mà rất là khó phá hủy. Bước đầu nhập quán, trước quán chiếu thân này là bốn đại giả hợp, xưa nay chẳng có, đương thể toàn Không, trong ngoài rỗng suốt. Không bị khống chế bởi thân này, thì sự đến đi trong sanh tử rõ ràng không bị chướng ngại, gọi là ‘phá sắc uẩn’. Sắc uẩn mà phá được, thì có thể dần dần quán sâu bốn uẩn kia, bằng cách so sánh với sắc uẩn để suy rộng vậy.

Sắc chẳng khác Không: Câu này là phá thường kiến của phàm phu[16]. Do vì hàng phàm phu chỉ thừa nhận sắc thân, chấp làm chân thật, cho rằng thường hằng, thế nên khởi chấp [sự tồn tại] ngàn năm trăm kiếp, nhưng đâu biết thân này hư giả không thật, bị chuyển đổi bởi bốn tướng: sanh, lão, bệnh, tử, [chuyển đổi] không dừng trong từng ý niệm cho đến già chết, hoàn toàn vô thường, rốt cuộc trống không. Câu này cũng thuộc ‘cái Không của sanh diệt’, còn chưa tận cùng lý lẽ, bởi vì bốn đại huyễn sắc vốn không khác với Chân không vậy. Hàng phàm phu không biết điều đó, nên bảo rằng ‘sắc chẳng khác Không’, nghĩa là sắc thân vốn không khác với Chân không vậy.  

Không chẳng khác sắc:  Câu này là phá kiến chấp đoạn diệt của ngoại đạonhị thừa[17].  Do ngoại đạo tu hành mà không biết rằng thân từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm sanh, ba đời tuần hoàn, luân chuyển không dứt. Vì không thấu rõ lý nhân quả báo ứng trong ba đời, nên họ cho rằng, con người sau khi chết, thanh khí về trời, trược khí về đất, nhất linh chân tánh[18] trở về nơi thái hư[19]. Nếu nói như thế, thì hoàn toàn không có lý báo ứng: người làm thiện thì khổ nạn lao đao, người làm ác thì mưu toan đạt được. Đem bản tánh trở về thái hư, thì thiện ác không thành, lẽ nào chìm đắm? Có bất hạnh không?

Khổng Tử nói: “Du hồn là biến hóa, cho nên biết được tình trạng của quỷ thần.”[20] Ở đây ý nói, ‘chết mà không mất’, chính là lý lẽ rành rành của sự luân hồi báo ứng, thế nhưng người đời không suy xét kỹ, ngang ngạnh chấp đoạn diệt, thật là sai lầm vậy.

Hàng nhị thừa tuy y theo lời dạy của Phật để tu hành, nhưng không thông suốt ‘tam giới duy tâm’[21], ‘vạn pháp duy thức[22]’, không hiểu rõ ‘sanh tử như huyễn, như hóa’, muốn cho rằng ‘tướng của tam giới là thật có’, cho nên xem ‘ba cõi như lao ngục’, ngán ‘bốn sanh như gông cùm’, không khởi tâm niệm hóa độ chúng sanh, trầm không trệ tịch[23], đắm trong tịch diệt.

Vì hiểu những điều trên, nên nói, ‘Không chẳng khác sắc’, nghĩa là chân không vốn chẳng khác với huyễn sắc; là chẳng phải cái Không của sự đoạn diệt do tách rời sắc tướng, mà muốn hiển thị ‘bát-nhã là thật tướng, chân không’ vậy. Vì sao? Vì bát-nhã chân không thì như tấm gương tròn lớn (: đại viên cảnh), và tất cả huyễn sắc thì như hình ảnh trong gương. Nếu biết hình ảnh không rời gương, thì biết ‘Không chẳng khác sắc’ vậy.

Trên đây là phá cái Không của ‘ly sắc đoạn diệt’ của nhị thừa, và cái Không ‘hoát đạt’[24] của ngoại đạo. Lại sợ người đời đem hai chữ ‘sắc – không’ mà đàm luận thành hai khái niệm đối kháng, không thể xem xét một cách bình đẳng, nhất như[25], cho nên hòa hợp ‘sắc – không’ mà nói, ‘sắc tức là Không, Không tức là sắc.

Với sự quán chiếu như thế, nếu biết ‘sắc chẳng khác Không’, thì không thanh sắc, hóa lợi[26] nào đáng tham cầu, cũng không có ngũ dục, trần lao[27] nào để luyến ái. Phép tắc ấy độ thoát ngay cái khổ của phàm phu vậy.

Nếu biết ‘Không chẳng khác sắc’, thì không khởi xuất diệt định[28] mà vẫn hiện hành các oai nghi, không lay động bản tế[29] mà vẫn làm các sự nghiệp độ sanh, trú ở nơi Không mà vạn hạnh tuôn trào, bước lên cõi Hữu mà nhất đạo[30] trong sáng. Phép tắc ấy vượt bỏ ngay cái chấp của ngoại đạo, nhị thừa vậy.

Nếu biết ‘sắc – Không là bình đẳng, nhất như’, thì ý nghĩ này nối tiếp ý nghĩ khác đều là độ sanh, nhưng không thấy chúng sanh để hóa độ; tâm nguyện này nối tiếp tâm nguyện khác đều cầu thành Phật, nhưng không thấy quả Phật để mong cầu, đó gọi là ‘viên thành nhất tâm, không quán trí, không thủ đắc.’ Phép tắc ấy vượt qua Bồ-tát [địa] để chứng đắc ngay Phật địa ở ‘bờ bên kia’ vậy.

Ngay nơi một pháp ‘sắc uẩn’ này mà có thể tác quán như thế, thì bốn uẩn kia phải quán niệm một cách trọn vẹn, sáng tỏ. Đúng như ‘một căn đã về nguồn, sáu căn thành giải thoát’[31], cho nên nói rằng: ‘Thọ, tưởng, hành, thức, cũng lại như vậy.’ Nếu thật như thế, thì đoạn ngay các khổ đau, đến được quả vị Phật. Bờ bên kia không xa, chỉ cần chúng ta ‘nhất niệm quán tâm’ sao cho thành tựu. Pháp quán chiếu như thế, há chẳng sâu xa sao?

 

 Xá-lợi tử, tướng Không của các pháp ấy không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt.

Xá-lợi tử, thị chư pháp Không tướng bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnhbất tăng bất giảm.

舍利子。是諸法空相。不生不滅。不垢不淨。不增不減。

 

Ở đây lại sợ người đời nhận lầm pháp bát-nhã ‘thật tướng của chân không’ qua cái tâm sanh diệt, rồi khởi lý giải về ‘sanh diệt, dơ sạch, thêm bớt’, cho nên tôn giả [Xá-lợi tử] được [Phật] bảo cho biết rằng, cái gọi là ‘thật tướng của chân không’ không phải là pháp ‘sanh diệt, dơ sạch, thêm bớt’ vậy. Lại nữa, ‘sanh diệt, dơ sạch, thêm bớt’ chính là pháp ‘tình kiến’[32] của chúng sanh, còn bản thể của ‘chân không, thật tướng, bát-nhã’ là thanh tịnh vắng lặng, giống như hư không. Đã là pháp ‘thoát khỏi tình trần’, há không cho là đúng sao? Cho nên chữ ‘không’ (: bất) là để phủ định ‘sanh diệt, dơ sạch, thêm bớt’, nghĩa là ‘các pháp hay năm uẩn tức là thật tướng của chân không.’ Mỗi pháp đều tách rời những khái niệm đối kháng[33] như vậy.

 

Thế nên, trong Không không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến không ý thức giới; không vô minh và không sự diệt tận của vô minhcho đến không lão tử và không sự diệt tận của lão tửkhông khổ, tập, diệt, đạo; không quán trí và không thủ đắc.

Thị cố Không trung vô sắcvô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạovô trí diệc vô đắc.

是故空中無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。

 

Đoạn này giải thích thêm ‘lý do rời bỏ khái niệm đối kháng’[34] của tuệ giác bát-nhã, nghĩa là ‘lý do rời bỏ khái niệm đối kháng’ của tuệ giác bát-nhã về chân không. Bởi vì trong chân không thì trong sạch, không có vật gì, cho nên không có vết tích của năm uẩn. Không chỉ khôngnăm uẩn, cũng không có sáu căn. Không chỉ không có sáu căn, cũng không có sáu trần. Không chỉ khôngsáu trần, cũng không có sáu thức. Đây là căn – trần – thức giới, chúng đều là pháp của phàm phu. Tuệ giác bát-nhã về chân không hoàn toàn tách rời căn – trần – thức giới ấy. Thế nên, tất cả đều là ‘không’ (: vô), tức là tách rời pháp của phàm phu vậy.

Trong tuệ giác bát-nhã, không chỉ không có pháp của phàm phu, cũng không có pháp của bậc Thánh. Bốn đế, Mười hai nhân duyên, Sáu độ, v.v… đều là pháp xuất thế của bậc Thánh Tam thừa. Bốn đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chính là pháp của Thanh văn, bởi vì chán Khổ, đoạn Tập, ưa Diệt, tu Đạo. ‘Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắcDanh sắc duyên Lục nhậpLục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão tử’, là Lưu chuyển môn của Mười hai nhân duyên, tức hai đế: Khổ và Tập. Sự diệt tận của Vô minh, cho đến sự diệt tận của Lão tử, là Hoàn diệt môn của Mười hai nhân duyên, tức hai đế: Diệt và Đạo. Đây là pháp sở quán của Duyên giác.

Trong bản thể của tuệ giác Bát-nhã, hoàn toàn không có những pháp ấy, dẫu đạt đến cực điểm mà vẫn trừ bỏ đó. Không chỉ không có pháp của Nhị thừa, cũng không có pháp của Bồ-tát. Vì sao? Trí, tức là quán trí, là trí tuệ trong Sáu độ, là tâm năng cầu. Đắc, tức là quả vị Phật, là cảnh sở cầu. Nhưng sự tu hành của Bồ-tát, lấy trí tuệ là đầu, thì sự ‘hạ hóa chúng sanh’ cũng là sự ‘thượng cầu Phật quả’. Bởi vì cảnh giới của Phật thì như hư không, không có chỗ nương tựa; nếu đem cái tâm ‘hữu sở đắc’ mà cầu quả vị Phật, thì là chẳng phải ‘chân thật’ vậy. Do vì bản thể chân không bát-nhã vốn không có sự thể ấy, cho nên nói rằng, ‘không quán trí và không thủ đắc’. ‘Không thủ đắc’ mới là chứng đắc ‘chân thật’, là có được sự cứu cánh vậy.

 

Vì không thủ đắc nên Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa thì tâm không bị chướng ngại; không bị chướng ngại thì không có khiếp sợ, xa lìa mọi điên đảo mộng tưởng, được cứu cánh Niết-bàn.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bốviễn ly điên đảo mộng tưởngcứu cánh niết bàn.

以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢想。究竟涅槃。

 

Do quả vị Phật lấy ‘vô đắc’ mà có được, cho nên Bồ-tát tu hành phải y theo tuệ giác bát-nhã nà quán chiếu. Nhưng tất cả các pháp hoàn toàn không tịch[35], nếu y theo sự phân biệt ‘tình ái và tư tưởng’ mà quán chiếu [các pháp], thì tâm và cảnh trói buộc nhau, không thể giải thoát; đụng đâu cũng tham trước, cũng đều là chướng ngại. Nếu y theo chân trí bát-nhã mà quán chiếu [các pháp], thì tâm và cảnh đều là Không, xúc chạm các xứ đều thông suốt, hoàn toàn giải thoát, cho nên nói, ‘y theo bát-nhã ba-la-mật-đa thì tâm không bị chướng ngại’. Do tâm không bị chướng ngại thì không có sự sanh tử đáng sợ hãi, cho nên nói, ‘không có khiếp sợ’. Đã không có sự sanh tử đáng sợ hãi, thì cũng không có quả Phật để mong cầu. Sợ hãi sanh tử, mong cầu Niết-bàn, đều là sự ‘điên đảo mộng tưởng’. Kinh Viên Giác có nói: “Sanh tử với Niết-bàn đều như giấc mộng.”[36] Nếu chẳng phải tuệ giác bát-nhã quán chiếu [các pháp] một cách trọn vẹn, thì chắc chắn không thể tách rời trạng thái ‘điên đảo mộng tưởng’ này. Đã không thể tách rời sự ‘điên đảo mộng tưởng’, thì chắc chắn không thể ‘được cứu cánh Niết-bàn’. Niết-bàn là Phạn ngữ, Trung Hoa dịch là ‘tịch diệt’, còn gọi là ‘viên tịch’, nghĩa là ‘viên trừ ngũ trụ, tịch diệt vĩnh an’[37], là cực quả quy thú của chư Phật vậy. Ý nghĩa ấy là, rời bỏ cái tình của Thánh phàm thì mới có thể chứng nhập Niết-bàn[38]. Bồ-tát tu hành mà xả bỏ Niết-bàn thì quyết chẳng phải chân tu.

 

Chư Phật trong ba đời y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa thì được Vô thượng Chánh đẳng giácNên biết Bát-nhã ba-la-mật-đathần chú vĩ đại, là chú rất sáng chói, là chú vô thượnglà chú không gì sánh bằng, trừ được mọi khổ nãochân thật không hư dối.

Tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đềCố tri bát nhã ba la mật đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

三世諸佛。依般若波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒。是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛。

 

   Không chỉ Bồ-tát tu hành y theo tuệ giác bát-nhã, mà chư Phật trong ba đời cũng đều y theo tuệ giác bát-nhã để thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng giác, cho nên nói, ‘Chư Phật trong ba đời y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa thì được Vô thượng Chánh đẳng giác.A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề[39]Phạn ngữ. A, là ‘vô’.  Nậu-đa-la, là ‘thượng’. Tam, là ‘chánh’. Miệu, là ‘đẳng’. Bồ-đề, là ‘giác’.  Chính là tôn xưng quả vị Phật vậy. Do tuệ giác mà quán, nên biết đó là bát-nhã ba-la-mật-đa. Tuệ giác bát-nhã xua đuổi con quỷ ‘sanh tử phiền não’, nên nói là thần chú vĩ đại. Tuệ giác bát-nhã phá tan ngu tối của đêm dài sanh tử, nên nói là chú rất sáng chói. Trong các pháp thế gianxuất thế gian, không có một pháp nào hơn tuệ giác bát-nhã, nên nói là chú vô thượng. Tuệ giác bát-nhã là ‘mẹ của chư Phật’, xuất sanh tất cả vô lượng công đức, mà thế gianxuất thế gian không có vật gì sánh bằng, chỉ có tuệ giác bát-nhã đồng đẳng với tất cả[40], nên nói là chú không gì sánh bằng, Cái gọi là chú, đó là tuệ giác bát-nhã này đây. Nhưng đã gọi là bát-nhã, sao còn gọi là chú? Vì là ngôn ngữ cực đoan mà có hiệu quả thần tốc.  Như mật lệnh trong quân đội mà mặc nhiên tuân hành, thì không gì không chiến thắng; tuệ giác bát-nhã có khả năng phá hủy ma quân ‘sanh tử’, chiến thắng như thế. Lại như vị cam lộ, người uống vào thì bất tử, và tuệ giác bát-nhã là pháp vị ‘cam lộ’ có thể đ

Bài viết liên quan

Kinh Đại Bát Niết Bàn

Kinh Đại Bát Niết Bàn Lời Giới Thiệu Giới Thiệu Bản Dịch Kinh 1. Phẩm Thọ Mạng 2. Phẩm Thân Kim Cang 3. Phẩm Công Đức Danh Tự 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 1-4 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 5-7 5. Phẩm Đại Chúng Thưa Hỏi 6. Phẩm Thị Hiện Bệnh 7. Phẩm Thánh Hạnh 8. Phẩm Hạnh Thanh Tịnh 9. Phẩm Hạnh Anh Nhi 10. Phẩm Bồ Tát Quang Minh 11. Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống 12. Phẩm Bồ Tát Ca Diếp 13. Kiều-trần-như Hậu Phần Kinh Đại Bát Niết-bàn Phụ Lục     KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến  

Xem thêm

Kinh Đại Báo Tích

Kinh Đại Báo Tích Lời Nói Đầu Của Dịch Gỉa 01. Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi 02. Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm 03. Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ 04. Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử 05. Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai 06. Pháp Hội Bất Động Như Lai 07. Pháp Hội Mặc Giáp Trang Nghiêm 08. Pháp Hội Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt 09. Pháp Hội Đại Thừa Thập Pháp 10. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn 11. Pháp Hội Xuất Hiện Quang Minh 12. Pháp Hội Bồ Tát Tạng 12.01. Phẩm Khai Hoá Trưởng Giả Thứ Nhất 12.02. Phảm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký Thứ Hai 12.03. Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát Thứ Ba 12.04. Phẩm Như Lai Bất Tư Nghì Tánh Thứ Tư 12.05. Phẩm Tứ Vô Lượng Thứ Năm 12.06. Phẩm Đàn Na Ba La Mật Đa Thứ Sáu 12.07. Phẩm Thi La Ba La Mật Thứ Bẩy 12.08. Phẩm Sằn Đề Ba La Mật Thứ Tám 12.09. Phẩm Tỳ Lê Gia Ba La Mật Thứ Chín 12.10. Phẩm Tĩnh Lự Ba La Mật Thứ Mười 12.11. Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Thứ Mười Một 12.12. Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký Thứ Mười Hai 13. Pháp Hội Phật Thuyết Nhơn Xử Thái 14. Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng 15. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký 16. Pháp Hội Bồ Tát Kiến Thiệt 16.01. Phẩm Tự 16.02. Phẩm Tịnh Phạn Vương Đến Phật 16.03. Phẩm A Tu La Vương Thọ Ký 16-04 Phẩm Bổn Sự 16-05 Phẩm Ca Lâu La Vương Thọ Ký 16-06 Phẩm Long Nữ Thọ Ký 16-07 Phẩm Long Vương Thọ Ký 16-08 Phẩm Cưu Bàn Trà Thọ Ký 16-09 Phẩm Càn Thát Bà Thọ Ký 16-10 Phẩm Dạ Xoa Thọ Ký 16-11 Phẩm Khẩn Na La Vương Thọ Ký 16-12 Phẩm Hư Không Hành Thiên Thọ Ký 16-13 Phẩm Tứ Thiên Vương Thọ Ký 16-14 Phẩm Tam Thập Tam Thiên Thọ Ký 16-15 Phẩm Dạ Ma Thiên Thọ Ký 16-16 Phẩm Đâu Xuất Đà Thiên Thọ Ký 16-17 Phẩm Hoá Lạc Thiên Thọ Ký 16-18 Phẩm Tha Hoá Tự Tại Thiên Thọ Ký 16-19 Phẩm Chư Phạm Thiên Thọ Ký 16-20 Phẩm Quang Âm Thiên Thọ Ký 16-21 Phẩm Biến Tịnh Thiên Thọ Ký 16-22 Phẩm Quảng Quả Thiên Thọ Ký 16-23 Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Tán Kệ 16-24 Phẩm Giá La Ca Ba Lợi Bà La Xà Ca Ngoại Đạo 16-25 Phẩm Lục Giới Sai Biệt […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Pháp Luân

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂNBản gốc: bản khắc gỗ Càn LongTam Tạng An Thế Cao đời Hậu Hán An Tức dịch.   Nam mô Bổn Sư Thích Mâu Ni Phật, Nhân dịp kỷ niệm ngày Phật thành đạo ( Phật lịch 2561 – 2017), Phật tử Hoàng Phước Đại, Pháp danh Đồng An, xin gửi đến […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

KINH CHUYỂN HÓA BẠO ĐỘNG VÀ SỢ HÃI(Duy Lâu Lạc Vương Kinh)Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198tương đương với Attadanda Sutta, Sutta-Nipàta 935-9544   Bối Cảnh Đây là kinh Duy Lâu Lặc Vương. Duy Lâu Lặc Vương là tên của vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka), người kế vị vua Ba […]

Xem thêm

Kinh Chánh Kiến

LỜI BAN BIÊN TẬP: Trong các thuật ngữ Phật Giáo, có lẽ không có thuật ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế" hay còn gọi “Chân […]

Xem thêm