Đính chính và cáo lỗi những sai sót trong bản dịch phê bình Thích Nhất Hạnh đã biến đổi Tâm Kinh

"ĐÍNH CHÍNH VÀ CÁO LỖI NHỮNG SAI SÓT TRONG BẢN DỊCH
PHÊ BÌNH THÍCH NHẤT HẠNH ĐÃ BIẾN ĐỔI TÂM KINH

Kính gởi các độc giả bản dịch "Phê bình Thích Nhất Hạnh đã biến đổi tâm kinh" từ nguyên tác "Thich Nhat Hanh's Changes to The Heart Sutra" của học giả Jayarava đăng tải trên trang mạng thuvienhoasen.org

Sau thời gian bản dịch được đăng tải, dịch giả (Phước Nguyên) nhận thấy có những khuyết điểm và sai sót trong bản dịch tiếng Việt, từ đó đã dẫn đến việc một số độc giả hiểu lầm và có những ngộ nhận đáng tiếc về nguyên tác. Nên ngay lập tức dịch giả đã hiểu đính và bổ túc những khuyết điểm này.

Vậy nay, dịch giả kính nhờ BBT Thư viện Hoa sen cập nhật bản dịch đã được đính chính chính lại, bản này đã được đính chính một cách tối đa những sai sót về ý nghĩa so với nguyên tác, để quý độc giả có được nhìn nhận gần nhất với nguyên tác. 

Và cũng thông qua mục bài đăng này xin đính chính và cúi đầu cáo lỗi với độc giả bài này vì những khuyết điểm trong bản dịch tiếng Việt trong bài đăng tải lần đầu (vào ngày 30/10/2017).
Kính mong quý độc giả và BBT hoan hỷ lượng thứ cho những khiếm khuyết này.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật 
Kính đính chính và cáo lỗi
Saigon, Ngày 6/11/2017
Phước Nguyên .

 
PHÊ BÌNH THÍCH NHẤT HẠNH ĐàBIẾN ĐỔI TÂM KINH
Nguyên tác của Jayarava:
Thich Nhat Hanh's Changes to The Heart Sutra
Dịch ViệtPhước nguyên

 

  • § GIỚI THIỆU TÁC GIẢ

JayaravaJayarava, hiện là học giả uy tín trong giới nghiên cứu hiện đại, có bằng Cử nhân Hóa học và Post Graduate Diploma về Thủ thư. Ông là một Dharmacārin (Pháp hành giả), nghĩa là một thành viên của Triratna Buddhist Order. Ông tự học Pāli, đã hoàn tất các khóa học tiếng Sanskrit tại Đại học Cambridge, và có thẩm quyền Trung cổ Hán văn. Ông cũng tham gia vào nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, bao gồm âm nhạc, vẽ tranh, nhiếp ảnh, và thư pháp. Ông sinh ra và lớn lên ở New Zealand, cho đến năm 2002, ông chuyển đến Cambridge, Vương quốc Anh.

Từ năm 2005, tác giả đã viết khoảng 500 bài tiểu luận đăng trên website của ông. Bài viết học thuật của ông được xuất bản trong Journal of Buddhist EthicsJournal of the Oxford Centre for Buddhist Studies, và Western Buddhist Review. Ông đã xuất bản sách về kinh Kālāma Suttathủ pháp mantra, và danh nghĩa Sanskrit. Ông hiện đang làm việc với tập sách nghiên cứu nhan đề: Karma and Rebirth và lên kế hoạch xuất bản tập sách về Sutra Heart.

Tác giả là người kế thừa và ảnh hưởng sâu sắc bởi các giáo sư danh giá như Sue Hamilton, Jan Nattier, Paul Harrison, Greg Schopen, và Richard Gombrich.

*Nguồn tin từ trang web của tác giả (email và địa chỉ liên hệ): http://jayarava.blogspot.co.uk/p/about-jayaravas-raves.html

*Nguồn bài viết:

http://jayarava.blogspot.co.uk/2016/03/thich-nhat-hanhs-changes-to-heart-sutra.html

 

LỜI ĐẦU CỦA NGƯỜI DỊCH

Bài phê bình này được dịch sang tiếng Việt với mục đích giới thiệu một bài luận dạng phê bình và phản biện tiêu chuẩn trong học thuật nghiêm túc đến với các độc giả quan tâm.

Bài phê bình này Tác giả viết ra nhằm giúp cho những ai đang có các hoài nghibối rối về một số vấn đềtrong nguyên bản Tâm kinh nói chung, và các bản dịch nói riêng, phần nào hiểu thêm về ý nghĩa của nó. Tất nhiên, một bài phê bình ngắn không thể nào nói hết những vấn đề của Tâm kinh mà Tác giả muốn nói.

Bài dịch này được phổ biến hầu mong mang lại một luồng sinh khí mới để phần nào khơi dậy những chí nguyện nóng bỏng mong tìm ra một con đường sáng như Thiện tài đồng tử vượt núi non ghềnh thác để đi tìm được nguồn sống hỷ lạc trong kho tàng minh triết vô biên, nhằm chuẩn bị hành trang lên đườngcho một vận hội mới.

Phê bình không phải là chỉ tríchphê bình cũng không phải đứng trên ý thức hệ này để phá hủy ý thứchệ kia. Phê bình là phá hủy tất cả mọi ý hệ thức hệ, phê bình là thiết lập trong phá hủyphê bình là dựng lại những gì bị ngã kiến gặm nhấm xiu vẹo, để đưa chúng trở về đúng với bản vị của mình.

Người dịch không có gì để nói nhiều về bài phê bình cũng như bản dịch này, tự nó sẽ nói lên những gì mà nó muốn nói, và sau hết mỗi độc giả sẽ tự có nhận định cho riêng mình.

Dịch xong, Vô trụ xứ am,

Tiết sương giángĐinh dậu (2017)

Phước nguyên

 

  • § VÀI GHI CHÚ CỦA NGƯỜI DỊCH

-Tựa đề do người dịch đặt theo phát biểu của chính tác giả trong bài viết, để nêu bật nội dung, dịch sát là: “Những thay đổi tâm kinh của Thích Nhất Hạnh”

-Người dịch cố gắng giữ nguyên cấu trúc nội dung, các đại từ xưng hô mà tác giả dùng và hình thức của bài nguồn, như dấu ngoặc kém, các định dạng chẳng hạn, v.v.. để khả dĩ gần với ngữ khí và văn ngữ của tác giả.

Các phần chua trong dấu ngoặc tròn (), hay dấu ngoặc vuông [], là của chính tác giả.

-Để tiện cho độc giả không rành Phạn/Hán theo dõi, người dịch phiên âm Phạn/Hán ngay sau từ đó.

-Nhằm đảm bảo tính khách quan và xác thực nhất, những chỗ tác giả dẫn phát biểu hoặc kinh văn của Thầy Nhất Hạnh bằng Anh ngữ, dịch giả sẽ sử dụng trực tiếp phát biểu hay kinh đó đó do chính Thầy Nhất Hạnh dùng bằng tiếng Việt. Chỗ nào bắt buộc phải dịch sát theo tiếng Anh hay không có tương đương trong bản Việt của Thầy Nhất Hạnh, người dịch sẽ dịch theo tiếng Anh và ghi vào cước chú.

-Những chỗ tác giả dẫn từ hay cụm từ Anh văn để nhằm so sánh, dịch giả giữ nguyên từ Anh văn, rồi gạch nối (–) dịch việt ngay sau từ đó.

-Footnote của người dịch sẽ được đánh số La-tin (Tác giả không có Footnote).

-Những đường link tham khảo trong bài viết do tả giả sử dụng được giữ nguyên trong bản dịch.

-Ngoài ra, có những điểm nào khác, nếu thấy cần thiết, dịch giả sẽ ghi rõ vào cước chú.

Vài ghi chú mong độc giả lưu ý trước khi đọc vào bài dịch.

JAYARAVA: PHÊ BÌNH THÍCH NHẤT HẠNH
ĐàBIẾN ĐỔI TÂM KINH

by Jayarava

Kể từ khi tôi đọc bài viết của Jan Nattier vào năm 1992, Tôi đã viết gần ba mươi bài tiểu luận về Tâm kinh và đã cố gắng để làm một bản trích yếu về nó.

Trong việc khảo sát lại các văn bản mà tôi đã biết trong hơn hai mươi năm qua thông qua việc nghiên cứu các Thủ bản Sanskrit và các bản dịch thuộc hệ thống kinh điển Trung quốc, tôi rất hiếm khi bị cuốn hút để viết về các bản dịch Anh ngữ hiện đại, hoặc những bản luận giải về nó. Hầu hết các bản dịch phần lớn đều tệ hại và luận giải là tất cả những gì các nhà chú giải muốn kinh điển nói thế, chứ không phải về chính bản kinh đó. Tuy nhiên, bài tiểu luận này là viết về một bản dịch hiện đại nhưng trong một chừng mực nào đó cũng là một bản chú giải.

Vào năm 2014, một Thiền sư nổi tiếng, Thích Nhất Hạnh (TNH), đã cho ra đời bản dịch mới của Tâm kinh. Bạn có thể xem nó song song với bản trước kia, bản dịch chuẩn hơn, ở đây. Bất cứ khi nào có ai đó như ông ta làm một việc như thế này, kết quả thường được chào đón bằng một làn sóng nịnh bợ rồi tung hô quá đáng (điều đó cũng xảy ra tương tự trong hoạt động Phật giáo của tôi). Trang web riêng của TNH đề cập rằng đây là bản dịch "sâu sắc và hay"[1]. Điều này thực sự không chính xác. Chỉ có môn đệnào của ông bị thiếu tầm nhìn thì mới nói như thế. Còn đối với một người khách quan thì bản dịch mới trông thật huênh hoang và dị hợm. Trong một số phương diện, điều này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì Tâm kinh là một hệ thống thuật ngữ đặc thù Phật giáo có tính chặt chẽ cao mà không dễ dàng có thể phiên dịch được nó. Xem thêm ở phần phân tích nội dung Tâm kinh của David Chapman’s.

Rất nhiều bản dịch mới được kích khởi từ tính ngông cuồng tự đại hoặc từ sự mong muốn xác lập uy tíncủa mình như là một “thiền sư”. Những bản dịch này hẳn nhiên không giúp ích gì thêm cho kiến thứccủa chúng ta về văn bản và chúng cũng không có đóng góp gì cho lĩnh vực văn học. Chúng thường là một kiểu Buddhist Hybrid English– ‘Anh ngữ hỗn chủng Phật giáo’ tệ hại nhất. Ví dụ, có nhiều dịch giả, bao gồm cả TNH, đã thử cố gắng ngụ ý rằng Tâm kinh là thể thơ bằng cách sắp đặt nó như là một bài thơ. Tâm kinh không phải là thể thơ. Nó cũng không phải là một bài thơ. Tâm kinh là thể văn xuôi. Trên thực tế chỉ có một văn bản trong bộ loại Prajñāpāramitā thuộc thể thơ và nó chỉ như là phụ họa cho bộ loại này, đó là Ratnaguṇasaṃcayagāthā[2] (thậm chí vẫn chưa được dịch sang tiếng Trung quốc cho đến thế kỷ thứ 10).

Trong trường hợp này, bản dịch được thúc đẩy bởi một điều gì đó nghiêm túc hơn. Văn phòng THN nói cho chúng ta biết rằng:

“Sở dĩ Thầy phải dịch lại Tâm kinh, vì vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã không đủ khéo léo trong khi sử dụng ngôn từ; do đó, đã gây ra nhiều hiểu lầm gần 2000 năm.”[3]

Dĩ nhiên là Tâm kinh không hề có chuyện 2000 năm tuổi, chỉ có thể vào khoảng 1300 năm tuổi. Rõ ràngTNH hoặc là không biết đến, hoặc là chối bỏ thuyết nguồn gốc Trung quốc của Jan Nattier, còn tôi thì ngược lại cho rằng thuyết này được thiết lập hết sức thuyết phục, không thể nghi ngờ. Phần quan trọng nhất của học thuyết hiện đại về Tâm kinh chưa đến được với Làng Mai. Ý kiến cho rằng một “tổ sư” nào đó ghi lại Tâm kinh “đã không đủ khéo léo” rõ ràng chỉ là hư cấu và theo đó chúng ta có thể nói về một bản Tâm kinh hoàn hảo nhưng đã bị ghi chép không hoàn hảo, nhưng tôi muốn chuyển sang điểm chính. Vấn đề theo TNH là có sự mâu thuẫn trong Tâm kinh. Chỉ đến gần đây tôi mới tự mình xác định được mâu thuẫn này và bởi vì cộng đồng Phật giáo thường có khuynh hướng phản đối bất kỳ ý kiến nào về sự khiếm khuyết trong kinh điển, nên tôi đã rất ngạc nhiên và tò mò khi thấy TNH thừa nhận khiếm khuyết này cho dù là thông qua một người phát ngôn. Vậy thì bất ổn ở đây là gì?

Cái lỗi không nằm ở công thức ‘sắc tức thị không’ mà nằm ở chỗ vụng về nơi câu ‘Thị cố không trung vô sắc’.[4]

Bất ổn ở đây là hai câu phát biểu mâu thuẫn nhau theo cách không thể nào bỏ qua như là một kiểu nghịch lý của trí tuệ bí mật.

Nếu ta vừa nói rằng "Tính Không là Sắc" rồi ngay sau đó lại nói rằng "Trong Tính Không không có Sắc" thì đó không phải là nghịch lý, mà là hoàn toàn mâu thuẫn. Như TNH nói: “Câu kinh này có thể dẫn đến nhiều hiểu lầm tai hại.[5]

Như vậy, toàn bộ phát hiện này thuộc về TNH. Ông ta đã phát hiện một sai lầm trong Tâm kinh và đã công bố. Thông thường thì người Phật tử phản đối mạnh mẽ việc chấp nhận những điều như thế. Chúng ta thực sự nên dừng lại một chút để suy ngẫm về điều này trước khi xem xét những gì mà TNH đã làm để đáp ứng với phát hiện của ông.

Trong khi việc phát hiện và thừa nhận sai lầm trong Kinh điển của TNH là tiến bộ, thì phản ứng của ông đối với việc này lại là một sự thụt lùi. Ông mô tả bất ổn như là một sự ghi chép bản kinh bị thiếu sót bởi một “tổ sư” nào đó trước đây, và để giải quyết điều ấy ông thay đổi từ ngữ trong bản kinh sao cho bất ổn đó hoàn toàn mất đi. TNH tỏ ra tin rằng ông ta có đủ tầm nhận thức sâu sắc về ý nghĩa bản kinh muốn nói và thẩm quyền hiệu đính từ ngữ để truyền đạt ý nghĩa này.

Đến đây thì TNH muốn trích dẫn văn bản Sanskrit, vì ông vẫn tin rằng đây là phiên bản gốc, xác thực nhất của bản kinh. Như tôi đã nói, ông có vẻ như phủ nhận thuyết nguồn gốc Trung quốc. Nhưng rồi tôi sẽ chỉ ra rằng thực tế ông ta đã dịch từ bản Trung quốc và việc trích dẫn tiếng Sanskrit chỉ để tăng thêm tính trang trọng cho phát biểu của ông ta mà thôi. (So sánh với các bình luận của Nattier trong bài which Mahāyāna texts đã trở nên phổ biến trong giới WEIRD). Điều này có vẻ hơi thiếu trung thực, nhưng lại dường như là tiến trình chuẩn mực trong các bản dịch của giới Thiền gia.

Giống như các nhà chú giải khác, TNH cho rằng câu rūpam śūnyatā śūnyataiva rūpam như là tâm điểm của Tâm kinh. Ông dịch câu này là (tôi giữ nguyên định dạng của ông):

“Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.”[6]

Có hai vấn đề cần nói về điều này. Đầu tiên, TNH đã đảo ngược thứ tự của những cặp phát biểu này trong văn bản T.251[7] của Trung quốc (phiên bản được biết đến nhiều nhất trong các văn bản Trung quốc, được nói là của Huyền Tráng). Xem xét các điểm khác trong bản dịch của ông ta, thì rõ ràng là dịch từ bản Trung quốc, nhưng ở đây, ông ta đã sử dụng thứ tự dựa theo bản Sanskrit của Tâm kinh. Thứ tự trong T251 phản ánh thứ tự xuất phát từ văn bản T223[8], bản dịch Kumārajīva về Pañcaviṃśatisāhasrikā-prajñāpāramitā-sūtra[9], từ đó phản ánh thứ tự các phát biểu trong phiên bản Sanskrit của văn bản đó mà ngày nay các thủ bản vẫn còn tồn tạiVì vậy, trên thực tế T251 là phiên bản xác thực hơn của đoạn văn này và bản Sanskrit của Tâm kinh là một trong những phần lẻ bên ngoài. Nó không nhất thiết phải xác thực hơn để chấp nhận đọc từ bản Sanskrit, đặc biệt là khi người ta dịch từ bản Trung quốc.

Điều thứ hai cần nói, đó là việc dịch từ rūpa thành "body-hình hài", trong ngữ cảnh năm skandha thì đó là một sự kỳ quặc. Rūpa thường được hiểu là "hình thái" như một đặc điểm của các loại đối tượng mà năng lực các giác quan có thể xung chạm để tạo ra kinh nghiệm. Chính Tâm kinh tự nó đã biểu thị điều đó khi nó xếp vị trí của “hình thái” song song với âm thanh, hương thơm, vị nếm, xúc chạm và các đối tượng tâm lý (dharmas)[10]. Và từ "hình thái" là từ ban đầu được TNH sử dụng. Tôi không rõ tại sao bây giờ ông ta lại dịch nó là "hình hài". Sue Hamilton gợi ý rằng từ rūpa là để đề cập đến "trụ xứ của kinh nghiệm", tuy điều này có chút phức tạp hơn so với "hình hài". TNH có vẻ như chệch hướng một cách bất thường với lựa chọn này vì những lý do hoàn toàn không rõ.

Công thức "Hình thái chính là Tánh KhôngTánh Không chính là Hình thái" này, đối với hầu hết mọi ngườibao gồm cả TNH, đều nghĩ là tâm điểm trong Tâm kinh. Và công trình của TNH là biến chế lại kinh điển sao cho phần này nổi bật hơn. Do đó, ông đã thay đổi từ ngữ trong phần có mâu thuẫn của bản kinh, từ:

“Cho nên trong Tánh Không
Không có sắc, thọ, tưởng
Cũng không có hành, thức”.
(Sách nhật tụng Làng mai, 2000) [11]

Chuyển sang:

“Chính vì vậy mà trong cái không,
năm uẩn là[12] hình hàicảm thọtri giác,
tâm hành và nhận thức
đều không có mặt như những thực tại riêng biệt”[13].

Bản Sanskrit nói là Tasmāc chāriputra śūnyatāyām na rūpam … nghĩa là "Vì vậy, Śāriputra, trong Tánh Không không có hình thái, v.v.." hoặc "đối với Tánh Không không có hình thái". Từ Sanskrit của “Tánh Không" (śūnyatā) dùng trong biến cách 7. Vị trí, số nhiều (śūnyatāyām) cũng có thể được đọc là "trong Tánh Không" hoặc "đối với Tánh Không". Trong cả hai biến cách, nó phát biểu rằng không có mối quan hệ nào giữa hình thái và Tánh Không, trong khi những câu trước đó phát biểu rằng hai cái này đồng nhất. Một sự mâu thuẫn hoàn toàn. Thành ra TNH xoay quanh điểm này, bằng cách thay đổi văn bản để bây giờ ông ta nói rằng các skandha không có mặt như những thực tại riêng biệt. Theo quan điểm của Đại thừa giáo, thì như thế tuy hoàn toàn không phải là tà kiến, nhưng nó cũng không phải là những gì mà văn bản nói đến. Vì vậy, "bản dịch" của TNH là một cái gì đó mà ông đã biến chế ra để giải quyếtmột bất ổn hiển nhiên (một ngụy biện hợp lý hóa- post hoc rationalisation[14]).

Tôi cảm thấy rất hứng thú về việc TNH cho là có thể giải quyết mâu thuẫn này bằng việc thay đổi văn bản. Đây là chi tiết thú vị nhất trong tất cả những bài viết hiện đại thể hiện sự say mê đối với bản kinhnày, nếu không muốn nói rằng đây là điểm duy nhất đáng để bàn đến. Như một điều hiển nhiên, khi không lý giải được kinh văn, người ta có thể đơn giản là thay đổi chúng. Hầu hết các nhà chú giải thậm chí không thể thấy được sự mâu thuẫn này, nên những điều họ viết không có gì thú vịTuy nhiên, dù thấy được mâu thuẫn đó, TNH đã không giải quyết thỏa đáng lời hứa của mình, bởi vì ông ta đã ngay lập tức gạt đi vấn đề này bằng cách thay đổi văn đổi văn bản. Nhưng ít nhất ông cũng đã thừa nhận sự tồn tại của vấn đề ở đó.

Cách tiếp cận của riêng tôi đối với vấn đề này đã được viết trên blog và một lúc nào đó tôi hy vọng sẽ cho xuất bản trong một số tạp chí. (Xem Form is EmptinessParts III, and III). Tôi đã sử dụng một phương pháp do Jan Nattier và Nobuyoshi Yamabe phát triển, đó là lần theo lại các trích dẫn đến các văn bản gốc của Tâm kinh, tức là các văn bản Prajñāpāramitā. Và khi làm như vậy tôi đã phát hiện rarằng có một ai đó trong thời xa xưa đã ngụy tạo văn bản của Pañcaviṃśāsāhastikā tức Nhị vạn ngũ thiên tụng. Trong bản Aṣṭasāhasrikā[15] tức Bát thiên tụng, có dòng như vầy:

na hi anyā sā māyā anyat tad rūpam rūpam eva māyā | māyaiva rūpam |
Huyễn ảo và hình thái không phải hai điều khác biệt. Hình thái chính là huyễn ảoHuyễn ảo chính là hình thái.

Đây là một viện dẫn liên hệ đến lối so sánh cổ xưa của Phật giáo, đó là hình thái giống như một huyễn ảo. Lối so sánh trở thành phép ẩn dụhình thái là huyễn ảo. Và phép ẩn dụ đã được cụ thế hóa thànhhình thái là một huyễn ảoVấn đề là người biên tập đã thay thế từ māyā bằng từ śūnyatā, đã tạo ra một lỗi ngữ pháp thô thiển. Chữ hình thái trong tuyên bố này của Tâm kinhhoàn toàn không có ý nghĩa: đó là một lỗi ngữ pháp tệ hại và nó đã phá vỡ một phép ẩn dụ hoàn hảo. Còn nhiều ví dụ khác về việc biên tập lầm lẫn trong Tâm kinh mà tôi đã trình bày chi tiết trong phần III thuộc bài tiểu luận Form is Emptiness Hình thái chính là Tính KhôngVì vậylập luận của tôi là, nếu có một bất ổn nào đó trong Tâm kinh thì chính là phần này. Thực tế, câu: "hình thái là Tánh KhôngTánh Không chính là hình thái” là vô nghĩa. Điều này, không xóa bỏ đi thực tế, tức là lời phát biểu này đã biểu trưng cho một điều gì đó quan trọng đối với các Phật tử qua nhiều thế kỷ. Nhiều Phật tử cảm thấy và vẫn cảm thấy rằng những gì họ đang cố gắng thực hành là điều bất khả tư nghị (nghĩa đen là vượt ra ngoài tầm quan niệm lý giải của tâm thức phàm phu)[16]. Và truyền thống Đại thừa trở nên nhiều và càng nhiều bí ẩnu huyềnthâm diệu hơn, nó hỗ trợ cho các nhà Đại Thừa vận dụng nghịch lý như là một biểu hiện của mục đíchbất khả tư nghị này. Và định thức hàm chứa nghịch lý, tạo điều kiện phát triển cho các nhà chú giảithuộc tất cả các trường phái, những người tuyên bố là hiểu rõ được câu kinh này và có thể giải thíchcho tất cả chúng taTuy nhiên, điều tất yếu hiển nhiên là ta phải có đủ trí tuệ để hiểu được. Giờ đây tôi không còn thấy câu kinh lý giải này là lợi ích hoặc có ý nghĩa gì cả.

Ngược lại với TNH, tôi cho rằng mệnh đề thứ hai với từ śūnyatāyām là để tham chiếu đến śūnyatāvihārahoặc śūnyatāsamādhi, nghĩa là Trạng thái Tánh Không (trong Thiền định), được mô tả trong kinh điểnPāḷi (MN 121, 122) như là một trạng thái không có các kinh nghiệm sinh khởi. Các skandha là những tiến trình mà theo đó kinh nghiệm được sinh khởi. Trong Trạng thái Tánh Không các tiến trình này dường như bị đình chỉ. Do đó, trong Tánh Không, đúng theo nghĩa đen là không có rūpa, không có vedanā, không có saṃjñā, không có saṃskāra, và không có vijñāna. Không có nghịch lý ở đây. Chỉ đơn giản là một mô tả về trạng thái thiền định. Và lưu ý rằng nếu từ rūpa có nghĩa là "hình h

Bài viết liên quan

Kinh Đại Bát Niết Bàn

Kinh Đại Bát Niết Bàn Lời Giới Thiệu Giới Thiệu Bản Dịch Kinh 1. Phẩm Thọ Mạng 2. Phẩm Thân Kim Cang 3. Phẩm Công Đức Danh Tự 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 1-4 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 5-7 5. Phẩm Đại Chúng Thưa Hỏi 6. Phẩm Thị Hiện Bệnh 7. Phẩm Thánh Hạnh 8. Phẩm Hạnh Thanh Tịnh 9. Phẩm Hạnh Anh Nhi 10. Phẩm Bồ Tát Quang Minh 11. Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống 12. Phẩm Bồ Tát Ca Diếp 13. Kiều-trần-như Hậu Phần Kinh Đại Bát Niết-bàn Phụ Lục     KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến  

Xem thêm

Kinh Đại Báo Tích

Kinh Đại Báo Tích Lời Nói Đầu Của Dịch Gỉa 01. Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi 02. Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm 03. Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ 04. Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử 05. Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai 06. Pháp Hội Bất Động Như Lai 07. Pháp Hội Mặc Giáp Trang Nghiêm 08. Pháp Hội Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt 09. Pháp Hội Đại Thừa Thập Pháp 10. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn 11. Pháp Hội Xuất Hiện Quang Minh 12. Pháp Hội Bồ Tát Tạng 12.01. Phẩm Khai Hoá Trưởng Giả Thứ Nhất 12.02. Phảm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký Thứ Hai 12.03. Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát Thứ Ba 12.04. Phẩm Như Lai Bất Tư Nghì Tánh Thứ Tư 12.05. Phẩm Tứ Vô Lượng Thứ Năm 12.06. Phẩm Đàn Na Ba La Mật Đa Thứ Sáu 12.07. Phẩm Thi La Ba La Mật Thứ Bẩy 12.08. Phẩm Sằn Đề Ba La Mật Thứ Tám 12.09. Phẩm Tỳ Lê Gia Ba La Mật Thứ Chín 12.10. Phẩm Tĩnh Lự Ba La Mật Thứ Mười 12.11. Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Thứ Mười Một 12.12. Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký Thứ Mười Hai 13. Pháp Hội Phật Thuyết Nhơn Xử Thái 14. Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng 15. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký 16. Pháp Hội Bồ Tát Kiến Thiệt 16.01. Phẩm Tự 16.02. Phẩm Tịnh Phạn Vương Đến Phật 16.03. Phẩm A Tu La Vương Thọ Ký 16-04 Phẩm Bổn Sự 16-05 Phẩm Ca Lâu La Vương Thọ Ký 16-06 Phẩm Long Nữ Thọ Ký 16-07 Phẩm Long Vương Thọ Ký 16-08 Phẩm Cưu Bàn Trà Thọ Ký 16-09 Phẩm Càn Thát Bà Thọ Ký 16-10 Phẩm Dạ Xoa Thọ Ký 16-11 Phẩm Khẩn Na La Vương Thọ Ký 16-12 Phẩm Hư Không Hành Thiên Thọ Ký 16-13 Phẩm Tứ Thiên Vương Thọ Ký 16-14 Phẩm Tam Thập Tam Thiên Thọ Ký 16-15 Phẩm Dạ Ma Thiên Thọ Ký 16-16 Phẩm Đâu Xuất Đà Thiên Thọ Ký 16-17 Phẩm Hoá Lạc Thiên Thọ Ký 16-18 Phẩm Tha Hoá Tự Tại Thiên Thọ Ký 16-19 Phẩm Chư Phạm Thiên Thọ Ký 16-20 Phẩm Quang Âm Thiên Thọ Ký 16-21 Phẩm Biến Tịnh Thiên Thọ Ký 16-22 Phẩm Quảng Quả Thiên Thọ Ký 16-23 Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Tán Kệ 16-24 Phẩm Giá La Ca Ba Lợi Bà La Xà Ca Ngoại Đạo 16-25 Phẩm Lục Giới Sai Biệt […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Pháp Luân

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂNBản gốc: bản khắc gỗ Càn LongTam Tạng An Thế Cao đời Hậu Hán An Tức dịch.   Nam mô Bổn Sư Thích Mâu Ni Phật, Nhân dịp kỷ niệm ngày Phật thành đạo ( Phật lịch 2561 – 2017), Phật tử Hoàng Phước Đại, Pháp danh Đồng An, xin gửi đến […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

KINH CHUYỂN HÓA BẠO ĐỘNG VÀ SỢ HÃI(Duy Lâu Lạc Vương Kinh)Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198tương đương với Attadanda Sutta, Sutta-Nipàta 935-9544   Bối Cảnh Đây là kinh Duy Lâu Lặc Vương. Duy Lâu Lặc Vương là tên của vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka), người kế vị vua Ba […]

Xem thêm

Kinh Chánh Kiến

LỜI BAN BIÊN TẬP: Trong các thuật ngữ Phật Giáo, có lẽ không có thuật ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế" hay còn gọi “Chân […]

Xem thêm