Đức Đạt Lai Lạt Ma : Ngài Tịch Thiên Phê Phán Quan Điểm Duy Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Ngài Tịch Thiên phê phán quan điểm Duy Thức,
và giảng tính cần thiết của đạo lộ Trung Quán
Bản dịch Việt: Đặng Hữu Phúc
Bản Anh 1: Bài giảng lần thứ nhất 1979 tại Thụy Sĩ
Bản Anh 2: Bài giảng lần thứ hai 1993 tại Pháp

Đức Đạt Lai Lạt Ma
Ngài Tịch Thiên phê phán quan điểm Duy Thức
Bài giảng thứ nhất (1979)


dalai-lama-603Tụng 15. Nếu ngay chính nhận thức hư dối không hiện hữu, huyễn tượng được xác định tìm thấy bởi cái gì?

Vì các nhà Trung Quán bác bỏ hiện hữu thực hữu của tất cả các thực thể, kết quả là tính biết về các sắc-thể tương-tợ huyễn-tượng và các thứ [thanh, hương..] phải chẳng có một ngã tướngtự tính (Since the Centrists deny true existence of all entities, then the awareness of illusion-lke forms and so forth must be devoid of an intrinsic identity). Thế nên khi một nhà Duy Thức nghe rằng một sự vật chẳng có một tính tướng tự tính (intrinsic nature), vị ấy kết luận rằng nó thì hoàn toàn phi hiện hữu. Và như vậy vị ấy hỏi: Nếu ngay cả nhận thức (cognition) về một huyễn tượng không hiện hữu, do bởi cái gì mà huyễn tượng được biết? Điều ám chỉ là rằng sẽ chẳng tìm thấy một cái gì cả (The implication is that it would be ascertained by nothing at all). Đối với điểm này nhà Trung Quán trả lời:

16. Nếu đối với ông huyễn tượng tự thân không hiện hữu, trong trường hợp đó cái gì được tìm thấy? Ông có thể trả lời rằng trong tính thật tại nó hiện hữu một cách khác, chỉ là một biểu trưng của tâm.

16. If for you illusion itself does not exist, then what is ascertained? You may respond that in reality it is otherwise, simply as an expression of the mind.

Nhà Duy Thức: Các đối tượng đối ngoại không hiện hữu. Tất cả các thực thể khả hữu đều có bản chất của tâm chủ thể. Chúng là các chất thể của tâm, chẳng có bất kì chất thể nào khác. Chúng tôi những nhà Duy Thức chủ trương nguồn kinh điển của chúng tôi là sự khẳng định rằng ba cõi của hiện hữu (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) đều thuộc về bản chất (=tính tướng) của tâm.

Nhà Trung Quán: Theo ông, nếu các thực thể hiện hữu đối ngoại, như là chúng được thấy, chúng sẽ không là hư huyễn. Nếu chúng không hiện hữu đối ngoại, mặc dù các hiện tướng (appearances), chúng sẽ chẳng có một bản chất tự tính; và trong quan điểm của ông điều đó sẽ làm cho chúng hoàn toàn phi hiện hữu (utterly non-existent). Trong trường hợp đó, nếu huyễn tượng tự thân không hiện hữu, kết quả là sẽ chẳng tìm thấy một cái gì cả.

Nhà Duy Thức: Trong tính thật tại, một thực thể không hiện hữu đối ngoại như nó được thấy. Các hiện tượng, tỉ dụ, sắc (thanh, hương..) hiện hữu một cách khác — là các chất thể của tâm, tâm tri nhận chúng. Như vậy chúng chẳng hiện hữu là các đối tượng đối ngoại, cũng chẳng hoàn toàn phi hiện hữu.

17. Nếu tâm tự thân là một huyễn tượng, vậy thì cái gì được thấy bởi cái gì? Vì Đấng Bảo Hộ Thế Giới đã tuyên bố rằng tâm không tri nhận tâm. Cũng như một lưỡi gươm không thể cắt chính nó, thế nên với tâm, tâm không tri nhận tâm.

Nhà Trung Quán: Quý vị các nhà Duy Thức chủ trương rằng tâm thì cùng bản chất với đối tượng mà nó tri nhận. Nếu chủ thể và đối tượng là đồng nhất, làm cách nào bất kì sự vật gì được nhìn thấy bởi bất kì sự vật gì? Các bản kinh cũng luận bác tính khả hữu của một sự vật tri nhận chính nó. Trong kinh “Crown Jewel Discourse” Đức Phật khẳng định rằng tâm không tri nhận chính nó. Tâm không thể thấy chính nó cũng như một lưỡi gươm không thể cắt chính nó.

18. Ông có thể trả lời: Tâm thì giống như một ngọn đèn chiếu sáng chính nó. Một ngọn đèn không chiếu sáng chính nó, vì bóng tối không che lấp chính nó.

Nhà Duy Thức: Cũng giống như một ngọn đèn chiếu sáng bóng tối đang bao quanh, thế nên nó chiếu sáng chính nó. Có thể là một giả định hiểu ngầm rằng nếu nó không thể chiếu sáng chính nó, nó không thể chiếu sáng bất kì gì khác. Cũng giống như thế, cũng như tính biết/tính giác (awareness) tri nhận các đối tượng khác, thế nên nó tri nhận chính nó.

Nhà Trung Quán: Nói rằng một ngọn đèn chiếu sáng chính nó thì không hợp với quy ước thế tục. Tại sao? Bởi vì ngọn đèn không có tính chất của bóng tối. Nếu bóng tối hiện diện, nó có thể bị trục xuất, nhưng vì bóng tối chẳng có trong ngọn đèn, thật là vô nghĩa khi nói về một ngọn đèn chiếu sáng chính nó. Điểm chủ yếu này thì được thảo luận chi tiết trong Trung Luận của ngài Long Thọ.

19. Một vật màu lam không cần đến một vật khác [có màu lam] để cho nó màu lam, như là một viên pha lê trong suốt phải cần đến. Thế nên, tâm được thấy đôi khi tùy thuộc vào một cái khác, đôi khi không.

Nhà Duy Thức: Tỉ dụ, nếu bạn đặt một viên pha lê trong suốt trên một cái nền màu lam, hiện tướng màu lam (blue appearance) của nó sẽ tùy thuộc trên các chất thể màu lam khác. Bây giờ một vật tỉ như một viên ngọc lưu li thì màu lam ngay từ chính khi nó được tạo lập, thế nên màu lam của nó không tùy thuộc trên các chất thể màu lam khác. Như vậy, cũng giống như có hai trường hợp về sự tùy thuộc và sự chẳng tùy thuộc trên một đối tượng khác, thế nên vài nhận thức tuỳ thuộc trên các đối tượng khác tỉ dụ sắc, trong khi các nhận thức khác được hội tụ hướng nội và tri nhận chỉ tính biết (perceive awareness only).

Nhà Trung Quán: Để xác định sắc (thanh, hương..) và các thứ hiện hữu hoặc không hiện hữu, điều tất yếu là có một nhận thức chính xác (verifying cognition): Nếu một sự vật có thể được tri nhận bởi một nhận thức chính xác, nó hiện hữu; nếu nó không thể, nó không hiện hữu. Trong sự kiện “một sự vật có thể tìm thấy bởi một nhận thức chính xác” là tướng trạng / định nghĩa (definition) về một sự vật có một căn bản trong tính thật tại. Tất cả các học phái Phật giáo đều đồng ý về điểm này.

Thế nên, nếu khôngnhận thức chính xác để an lập sự hiện hữu của một sự vật, bạn không thể khẳng định (claim) rằng nó hiện hữu. Khi bạn khẳng định rằng có một nhận thứcchính xác về một sự vật, tỉ dụ một sắc tướng khách quan (objective form), bạn không thể chứng tỏ rằng nhận thức đó là chính xác chỉ trên các căn cứ rằng nó có một đối tượng; bạn cũng chẳng thể khẳng định rằng đối tượng đó hiện hữu chỉ trên các căn cứ rằng nó được tri nhận. Đó sẽ là lí luận không đi đến đâu (circular reasoning). Vấn đề sinh khởi do các nhà Duy Thực (Realists) không có khả năng an lập sự hiện hữu của một đối tượng và tính năng chính xác (the verifiability) của một nhận thức một cách thuần túy trên một căn bản quy ước thế tục. Như vậy để an lập tính chính xác (the validity) của một nhận thức của bạn , bạn sẽ cần một nhận thức chính xác khác để tri nhận nó… và một cái khác nữa sẽ được cần đến để an lập tính năng chính xác của nó, kéo dài vô tận (its verifiability, ad finitum). Đây là một tiếp cận có tính ngụy biện (fallacious approach).

Như vậy, nhà Duy Thức nói về một nhận thức chính xác, tự tìm thấy, nó tri nhận các nhận thức chính xác. Nhận thức đó an lập tính năng chính xác của các nhận thức (Thus, the Idealist speaks of a self- ascertaining, verifying cognition that apprehends verifying cognitions. That cognition establishes the verifiability of cognitions) (cognition: nhận thức; tiến trình nhận thức; trí năng). Tỉ dụ, tri nhận hình ảnh về các sắc tướng (the visual perception of form) thì tùy thuộc vào một đối tượng khác. Nhưng một loại khác của tính biết tri nhận chính nó và không tùy thuộc vào một đối tượng khác: Người thấy và cái được thấy đều là không khác biệt.

(For example, the visual perception of form is dependent upon another object. But another type of awareness apprehends itself and does not depend upon another object: The seer and the seen are not different)

20. Màu lam của một vật màu lam thì không được xem là nguyên nhân của màu lam của chính nó, như trường hợp của không phải màu lam [của pha lê, nó có nguyên nhân tạo thành]. Màu lam tự thân có thể làm cho một vật tự thân màu lam được không?

Nhà Trung Quán: Màu lam của lưu li được tạo nên bởi các duyên khác, nó không được tạo nên bởi chính nó.

21. Phát biểu một ngọn đèn chiếu sáng thì do sự nhận biết điều này với tính biết (awareness). Phát biểu tâm chiếu sáng do sự nhận biết điều này bởi tính biết nào? (The statement that a lamp illuminates is made upon knowing this with awarenes. The statement that the mind illuminates is made upon knowing this by what awareness?)

Nhà Trung Quán: Về sự phân tích, một tính biết đi trước (a prior awareness) không tri nhận một tính biết trong hiện tại mà nó chưa sinh khởi vào thời điểm của nhận thức đi trước. Một tính biết đi sau không tri nhận một tính biết đã sinh khởi và đã qua đi. Một tính biết trong hiện tại không thể là cả hai một chủ thể và đối tượng của chính nó. Như vậy, theo một hệ thống khẳng định rằng một đối tượng được đặt tên (designated object) được tìm thấy trên sự phân tích, bằng phương pháp hữu hiệu của nhận thức nào mà tính biết được nói là thông suốt? (Thus, according to the system that asserts that the designated object is found upon analysis, by means of what cognition is awareness said to be clear?)

22. Nếu không có một cái gì quan sát bất kể nó chiếu sáng hoặc không, nói về nó là ngu ngốc, như trong trường hợp nói về vẻ đẹp của con gái của một người đàn bà vô sinh.

Nhà Trung Quán: Chúng tôi công nhận tính năng không thể tìm thấy của chủ thể được truy tìm, chủ trương rằng không có nhận thức nào nhìn thấy điều này (no cognition that sees this), thế nên bạn không thể khẳng định bất kể nó đang chiếu sáng hoặc không. Nó sẽ giống như nói về vẻ đẹp của con gái của một người đàn bà vô sinh — không có nơi nào để tìm thấy (đứa con gái).

Nhà Duy Thức: Tính biết chiếu sáng chính nó là cần thiết, như đã khẳng định ở trên; và sự khẳng định này thì được cần đến để an lập nhận thức chính xác. Như vậy có tính biết tự nhận thức (self-cognizing awareness).

23. [Nhà Duy Thức] Nếu không có tính biết tự nhận thức, làm cách nào tâm thức được hồi tưởng?

[Nhà Trung Quán] Hồi tưởng là do sự liên kết với tri nhận về một sự vật khác. Điều này thì tương tự chuyện bị nhiễm độc do bị chuột cắn.

Nhà Duy Thức: Để cho hồi tưởng duyên hội xuất hiện, phải có trải nghiệm trước đó. Không có trải nghiệm trước đó thì không thể có hồi tưởng. Có hai phân loại là tự trải nghiệm (self-experience) và trải nghiệm-cái khác (other-experience). Nếu trải nghiệm [của tâm thức tự thân] là một trải nghiệm-cái khác — nghĩa là một trải nghiệm về một thực thể khác — tiến trình đi ngược vô tận duyên hội tiếp theo (infinite regress ensues). Thế nên, trải nghiệm như thế phải là tự trải nghiệm [nghĩa là tính biết của một thực thể là cùng bản chất như tự thân tính biết]. Như vậy, trải nghiệm phải là trong đó có tính biết về tự thân, nếu khác đi hồi tưởng không thể duyên hội xuất hiện. Tỉ dụ, từ một trải nghiệm trước đây về màu lam, về sau duyên hội xuất hiện hồi tưởng về đối tượng — màu lam — và hồi tưởng của chủ thể — “Tôi đã nhìn thấy màu lam”. Thế nên cùng chung với một trải nghiệm trước đó về đối tượng, đã có một tính biết tự nhận thức của chủ thể — tri nhận thị giác về màu lam. Trong cách thức này có thể duyên hội xuất hiện một hồi tưởng về sau rằng “Tôi đã nhìn thấy màu lam”.

Nhà Trung Quán: Không có chuyện cần phải trải nghiệm một sự vật để sau đó được nhớ lại. Tỉ dụ, trong khi bạn không nhận biết, bạn có thể bị cắn và do đó bị nhiễm độc bởi một con chuột. Mặc dầu bạn trải nghiệm bị cắn, bạn không trải nghiệm sự xâm nhập của chất độc vào trong cơ thể của bạn. Mặc dù điều đó không được tri nhận, về sau, khi hiệu quả của chất độc được cảm thấy, bạn nhớ lại trong lúc không nhận biết, chất độc được đưa vào.

Cũng giống vậy, do tri nhận về màu lam, về sau bạn nhớ lại tri nhận thị giác về màu lam, nhưng để cho điều đó duyên hội xuất hiện đã không cần thiết là tri nhận đó trải nghiệm chính nó. Làm cách nào hồi tưởng đó sinh khởi? Về trải nghiệm đối tượng khác — màu lam — do vì sự liên kết giữa chủ thể và đối tượng, hồi tưởng [của cái trước] duyên hội xuất hiện. Thế nên không có nhu cầu trước nhất trải nghiệm chủ thể.

24. [Nhà Duy Thức] Trong một hoàn cảnh khác, [các tâm của các người khác] được thấy, thế nên [tâm cũng phải] chiếu sáng chính nó.

[Nhà Trung Quán] Một cái bình được nhìn thấy do một thuốc thoa mắt thần diệu, nhưng thuốc thoa mắt sẽ không được thấy.

Nhà Duy Thức: Khi thành tựu tịnh chỉ thiền, tri nhận các tâm của các người ở xa là chuyện khả thi, phải không? Như vậy, chuyện phải khả thi là tâm của chính bạn được tri nhận bởi chính nó.

Bạn hãy thông hiểu điểm chủ yếu đang được luận bác ở đây. Điều này nói đến sự biện bác về [lí thuyết của Duy Thức về] tâm tri nhận chính nó. Tỉ dụ, bạn phải nhớ rằng đào luyện tịnh chỉ thiền được đặt tiêu điểm trên tâm là chuyện khả thi. Thảo luận này xem xét một tính biết đơn biệt tri nhận chính nó (This discussion concerns a single awareness perceiving itself). Một lần nữa, lập luận của nhà Duy Thức là rằng quan sát các tâm của các hữu tình khác ở xa là khả thi, thì sẽ không sai lầm trong phát biểu rằng tính biết tri nhận chính nó, vì nó ở ngay đây.

Nhà Trung Quán: Sự kiện bạn có thể nhìn thấy một sự vật xa xôi không nhất thiết ám chỉ rằng bạn có thể nhìn thấy một sự vật khác gần bên. Tỉ dụ, bằng cách sử dụng một loại thuốc thoa mắt đặc biệt, thì quan sát một bình châu báu chôn dấu trong đất là một chuyện khả thi; nhưng thuốc thoa mắt thì chính nó sẽ không được nhìn thấy. Theo sự thông hiểu của chúng tôi về tính năng bất khả tìm thấy khi phân tích về các sự vật quy chiếu được truy tìm, thì tính biết chẳng thể quan sát chính nó (According to our understanding of the analytic unfindability of sought referents, it is not possible for awareness to observe itself). Khi bạn phân tích các thời điểm trước và sau của tính biết và tìm kiếm đối tượng được đặt tên (designated object), thì không thể tìm thấy được. Trong cách này, trình bày của nhà Duy Thức sụp đổ nghĩa là không thể áp dụng vào tính thật tại.

Nhà Duy Thức: Có phải quý vị Trung Quán luận bác toàn bộ trình bày về nhận thức, gồm cả trải nghiệm, thấy và nghe về các biến cố? Nếu quý vị theo lập trường nói trên [quan liên tới tính biết tự nhận thức], điều này làm vô hiệu tính biết (If you take the above stance [with regard to self-cognizing awareness], this invalidates awareness).

25. Ở đây cái được thấy, được nghe, và được nhận thức thì không bị luận bác; nói đúng hơn, khái niệm [về chúng] là hiện hữu thực hữu (truly existent), nó là nguyên nhân của đau khổ thì bị ngăn chặn ở đây.

Nhà Trung Quán: Quan liên tới nhận thức, nếu bạn tìm kiếm đối tượng được đặt tên, nó không được tìm thấy. Nhưng đối tượng được nhận thức thì không bị làm vô hiệu hoặc bị luận bác bởi lí luận như thế. Mặc dầuhiện hữu, nếu bạn tìm kiếm nó với lí luận (bằng cách áp dụng phân tích tối hậu), nó thì không được tìm thấy. Nó thì không hiện hữu thực hữu, thế nên khi lí luận tìm kiếm một thực thể hiện hữu thực hữu, không có cái gì được tìm thấy. Nhưng sự kiện rằng nó không được tìm thấy dưới một sự phân tích như thế thì không bởi vì nó chỉ là phi hiện hữu.

Hình thức này của phân tích luận lí có mục đích xoá bỏ khái niệm về hiện hữu thực hữu, nó tác động như là gốc rễ của tham ái và tính thù hận và mang đau khổ tới các cá nhân. Nó là lí luận đem tới kết quả sự phân tích tối hậu. Nếu cái bị bác bỏ — một thực thể hiện hữu tối hậuhiện hữu, kết quả là các sự vật sẽ hiện hữu theo cách thế hiện hữu của chính chúng. Nếu điều đó đúng, kết quả là khi áp dụng phân tích luận lí, các sự vật [hiện hữu thực hữu] sẽ trình diện chính chúng. Chức năng của sự phân tích như thế là để kiểm tra xem các thực thể hiện hữu theo cách thế hiện hữu của chính chúng, có hoặc không; thế nên nếu chúng có, điều đó sẽ được khám phá bởi sự phân tích như thế. Nhưng bởi vì sự phân tích cho ra một kết quả tiêu cực, lí luận đó bác bỏ hiện hữu tối hậu hoặc thực hữu. Đó là sự khác biệt giữa một sự vật không được tìm thấy bằng lí luận, và một sự vật bị làm vô hiệu bằng lí luận.

Ở đây nhận thức không bị bác bỏ; nói đúng hơn, khái niệm về hiện hữu thực hữu, nó là nguyên nhân của đau khổ, thì bị trục xuất.

26. [Nhà Duy Thức] Huyễn tượng thì chẳng khác với tâm, nó cũng được xem là chẳng chẳng khác.

[Nhà Trung Quán]: Nếu nó thực sự hiện hữu, làm cách nào nó có thể là chẳng khác [với tâm]? Nếu nó là chẳng khác [với tâm], nó không hiện hữu trong tính thật tại.

Nhà Duy Thức: Vì các đối tượng đối ngoại không hiện hữu, chúng không khác về phương diện thực chất với tâm. Chúng cũng chẳng hiện hữu [trong trạng thái] là tâm. Sắc và các thứ (thanh, hương..) không hiện hữu như là các đối tượng đối ngoại, nhưng chúng không chỉ là phi hiện hữu. Chúng không có một bản chất khác với tâm, chúng cũng không là tâm chính nó.

Nhà Trung Quán: Nếu các đối tượng đối ngoại hiện hữu thực hữu, chúng sẽ phải hiện hữu trong cách thức trong đó chúng được thấy (= xuất hiện; appear), và trong trường hợp đó, chúng sẽ phải khác về phương diện thực chất với tâm. Nay nếu chúng không khác về phương diện thực chất, và nếu các hình ảnh đa loại (manifold images) đều là thực hữu có bản chất của một nhận thức đơn biệt, kết quả là các hình ảnh đó sẽ là giả dối. Trong trường hợp đó, nhận thức sẽ không hiện hữu trong tính thật tại. Nếu chúng không khác về phương diện thực chất, chúng sẽ không hiện hữu thực hữu.

27. [Nhà Duy Thức] Mặc dầu huyễn tượng không hiện hữu thực hữu, nó là một sự vật được quan sát.

[Nhà Trung Quán] Cũng như thế, tâm [mặc dầu không hiện hữu thực hữu] là một quan sát viên.

[Nhà Duy Thức] Sinh tử luân hồi có một căn bản trong tính thật tại; nếu khác thế, nó sẽ giống như hư không.

Nhà Duy Thức: Sắc và các thứ được thấy là các đối tượng đối ngoại đều không hiện hữu thực hữu; nghĩa là chúng không hiện hữu là các đối tượng đối ngoại. Chúng thì rỗng thông chẳng có hiện hữu như thế, và như vậy chúng tương tợ các huyễn tượng. Tuy nhiên chúng được quan sát.

Nhà Trung Quán: Trong cùng một cách thức, tâm, nó là quan sát viên, được thấy là hiện hữu thực hữu, nhưng nó không. Như vậy, nó cũng có thể được xem là tương tợ huyễn tượng ( illusion-like). Thế nên không có nhu cầu để khẳng định (assert) tâm là hiện hữu thể thực hữu ( truly existent). Mặc dầu các hiện tượng đối ngoại xuất hiện/được thấy, chúng không hiện hữu thực hữu; và như vậy chúng được xem là tương tợ huyễn tượng. Trong cùng một cách thức này, tâm đang quan sát được thấy nhưng nó thì không hiện hữu thực hữu, và thế nên nó được nghĩ là tương tợ huyễn tượng. Trong lập trường nào có tưởng tượng không bằng chứng trong lí luận như thế? (Where is the fallacy in such reasoning?).

Nhà Duy Thức: Sinh tử luân hồi, các sắc thể (forms), các thực thể giả danh/giả định (imputed entities) và các thứ (and so on) đòi hỏi một căn bản hiện hữu thực hữu cho hiện tướng giả dối (a truly existent basis for their deceptive appearance). Đó là, mỗi sự vật phải có một căn bản trong tính thật tại. Nếu chúng chẳng có một căn bản như thế, chúng sẽ tương tợ hư không. Như vậy chúng sẽ không là khởi nguồn của hoặc lợi ích hoặc tổn hại.

28. Vì sự tùy thuộc vào tính thật tại là của một sự vật phi thực, vậy có thể nó có bất kì tính hữu hiệu nào không? Tâm, theo ông, bị giảm thiểu tới một trạng thái cô lập chẳng có bất kì cái gì đi chung.

(Since the dependence on reality is of a non-real [thing], could it have any efficiency? The mind , according to you , is reduced to astate of isolation without any accompaniment)

Nhà Trung Quán: Nếu sinh tử luân hồi và các thứ, là phi thực, tuỳ thuộc vào một căn bản thực hữu của hiện tướng giả dối của nó, làm cách nào chúng có thể có bất kì chức năng nào? Ông nói rằng nếu chúng không tuỳ thuộc vào một căn bản như thế, chúng sẽ không có chức năng về trói buộc hoặc giải thoát các hữu tình; và không thể có một khả thi tốt hơn thay thế trong đó nó có một căn bản như thế. Bởi vì không thể có thay đổi, sẽ không có nô lệ (bondage) hoặc giải thoát.

Nếu không có các đối tượng đối ngoại, tâm, như ông khẳng định về nó, sẽ bị biệt lập trong tự- nhận thức tự chiếu sáng chính nó, mà chẳng có đoàn đồng hành của hiện tướng giả dối, nhị nguyên đối đãi của chủ thể và đối tượng.

(If there were no external objects, the mind, as you assert it, would be isolated in its own self-illuminating self-conition, without the accompaniment of the dualistic, deceptive appearance of subject and object)

29. Nếu tâm bị li cách với đối tượng được tri nhận của nó, kết quả là tất cả các hữu tình đều sẽ là Chư Như Lai. Thế nên bằng cách xem [các thực thể] chỉ là tâm (duy tâm/ duy thức), thì đạt được tốt đẹp nào?

Nhà Trung Quán: Nếu tâm chẳng có hiện tướng nhị nguyên đối đãi của chủ thể và khách thể — tỉ dụ, trong trạng thái tịnh chỉ thiền — kết quả là tất cả các hữu tình sẽ là Chư Như Lai [Chư Phật] từ lâu rồi. Bằng cách không đối diện với căn bản của hiện tướng nhị nguyên đối đãi, họ sẽ cư trú trong cảnh giới của tính thật tại / pháp tính và sẽ đúng là Chư Như Lai rồi (By turning away from the basis of dualistic appearance, they would abide in the sphere of reality and would have become Tathagatas already) (become: be suitable or right for) .

Nếu điều đó đúng, cái gì là điểm chủ yếu trong sự thành lập quan điểm Duy Thức của ông để thoát khỏi sự nô lệ do từ các sai lệch tinh thần.

————————————————————————————-

Chú thích 1 — Tri nhận, nhận thức, và đối tượng: quan liên tụng 19 [Nhà Trung Quán]

Dưới đây là một tỉ dụ để hiểu thêm về lời giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma — trong đoạn văn về tụng 19 [Nhà Trung Quán] nói trên.

Xin trích dẫn một đoạn văn của Ngài Thế Thân trong Vadavidhi (Lê Mạnh Thát. The Philosophy of Vasubandhu. Bản in 2003 . Saigon.p.196, p197. Bản dịch Việt: Đạo Sinh. Chương 5. thuvienhoasen.org. )

Tri nhận: perception — nhận thức: cognition — tính biết/tính giác: awreness — nhận thức chính xác: verifying cognition.

Nhận-thức-bạc: nhìn xa cừ mà đặt tên là bạc, đó là nhận thức sai, không phải nhận thức chính xác

Ngài Thế Thân viết trong Vadavidhi:

<< Tri nhận là một nhận thức chỉ từ tự thân đối tượng. Khi một nhận thức sinh khởi chỉ do đối tượng mà nó được đặt tên bởi đối tượng đó chứ không phải do cái gì khác, thì nhận thức này là sự tri nhận. Với định nghĩa này, những nhận thức sai bị loại bỏ, thí dụ nhận thức về xa cừ như là bạc, bởi vì nhận thức này được đặt tên bởi bạc là nhận-thức-bạc, nhưng lại không sinh khởi nhờ vào bạc; đúng hơn, nó được kích khởi nhờ vào xa cừ.

….

Sau cùng, nhận thức bằng suy luận cũng được loại bỏ bởi định nghĩa này, vì một nhận thức như thế xảy ra nhờ vào nhận thức về khói và sự nhớ lại về sự nối kết bất khả phân của nó với lửa, chứ không phải nhờ vào lửa. Cái mà chỉ từ đó nhận thức sinh khởi, và không sinh khởi, được xem là một đối tượng trong đoạn văn này.[4]>>

…..

 << “Perception is a cognition from the oject itself only. When a cognition arises only on account of the object, by which it is designated, and not on account of anything else.With this definition, false

Bài viết liên quan

Duy Thức Học (Thích Thiện Hạnh )

PHẬT LỊCH 2561DUY THỨC HỌCBÁT THỨC QUY CỦ TỤNG & DUY THỨC TAM THẬP TỤNGTạo luận: Thế Thân (Vasubandhu) | Hoa dịch: Huyền TrangViệt dịch, giải: Tỷ kheo Thiện HạnhPHẬT HỌC VIỆN KIM QUANG-HUẾ MỤC LỤC Nội dung trang I. Vài nét đại cương về Duy thức học 1. Khởi nguyên 2. Duy thức 3. Tâm và […]

Xem thêm

Vô Trước (Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia)

VÔ TRƯỚCBách khoa toàn thư mở Wikipedia Đại luận sư Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (sa. śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (sa. paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một […]

Xem thêm

Vạn pháp qua cái nhìn của Duy Thức

. Vạn Pháp Qua Cái Nhìn Duy Thức

Xem thêm

Vấn Đề Thức

VẤN ĐỀ THỨCNguyên tác: The Question of ConsciousnessTác giả: Đức Đạt Lai Lạt MaChuyển ngữ: Tuệ Uyển   Niềm vui của việc gặp gở những người ta yêu, nổi buồn của việc mất mát người thân, sự phong phú của của những giấc mơ đầy sức sống, sự an bình của những bước chân qua […]

Xem thêm

Vấn Đáp Về Tâm Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: VẤN ĐÁP VỀ TÂM THỨCTác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Tuệ Uyển chuyển ngữ – 15/05/2011 HỎI: Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế […]

Xem thêm

    Đăng ký nhận Thông Báo Bài Viết Mới

    hãy đăng ký để nhận báo giá các bài viết mới với cập nhật từ chúng tôi