Duy Thức Học Với Máy Vi Tính

DUY THỨC HỌC VỚI MÁY VI TÍNH
Trương Thông Văn trước tác
Thích Thắng Hoan Việt dịch

 

MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương 1: Sự tổ chức của máy vi tính và công năng của tám thức liên hệ với nhau
Chương 2: Điện não khống chế nhân loại đáng sợ
Chương 3: Trong tâm thức điên đảo vô minh kiềm chế chúng sanh đáng sợ
Chương 4: Lọc sạch nhân tâmthen chốt
Chương 5: Trình bày sơ lược các tông phái pháp bảo của thời đại mạt phápNiệm Phật
Kết luận: Phương pháp đối phó thức thứ bảy

***

LỜI NÓI ĐẦU

 

      duy thuc hoc voi may vi tinhVào thời đại này, kể cả đứa trẻ ba tuổi cũng biết dùng máy vi tính rất rành. Ngay trong sự sanh hoạt ngày thường, con người chỗ nào cũng đều có cơ hội tiếp xúc đến máy vi tính, như là xe hơi, dụng cụ nhà bếp, máy móc thương nghiệp, cơ giới công nghiệp, dụng cụ điều trị, thậm chí trong đồ chơi của trẻ con cũng có trang trí máy vi tính lớn nhỏ phức tạpđơn giản không giống nhau. Đến nỗi ở trong cơ quan điều khiển tinh vi, máy vi tính lại càng không thể có khuyết điểm, chẳng hạn như Phi Cơ, Tàu Thủy, Tín Hiệu Vô Tuyến Truyền Đạt..v..v…. đều an trí máy vi tính rất đầy đủ cao cấp. Chính nơi trang bị quân sự, máy vi tính lại càng trọng yếu hơn. Cho nên con người hiện nay sanh hoạt đều càng ngày càng ỷ lại nhiều vào máy vi tính thì nó càng quan trọng hơn.

 

      Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn. Một con người bình thường mỗi giây đồng hồ có thể tiếp nhận mười loại tư liệu tri thức mới. Cho nên năng lực ký ức của não bộ con người hầu như là vô hạn. Các chuyên gia nói đến vấn đề này chỉ bàn đến một phương diện sanh lý, tức là chỉ nói đến một bộ phận hệ thống thần kinh của thân thể con người, mà không biết rõ não bộ của con người dựa vào đâu để có thể tàng trử tư liệu nhiều như thế. Phật pháp thì nắm được nguyên nhân trong đó giải thích thật rất rành mạch, sự giải thích này chính là ở nơi Duy Thức bình luận rõ ràngPhật pháp chỉ bày trong tâm chúng sanh phát khởi biến hoá các thứ niệm tưởng đều do tám Thức mà có. Tám Thức này lại có một thứ quan hệ lẫn nhau làm cho công năng của nó trở nên phức tạptinh tế. Các thứ tổ chức trong não bộ chẳng qua chỉ là điều kiện phụ trợ, là dụng cụ chuyên môn của công năng phát huy mà thôi. Cần nói rõ hơn con người dựa vào đâu có nghiệp lực, dựa vào đâu bị luân hồi, thành đạo như thế nào, tốt nhất là trước hết phải biết rõ sự lợi hại của “Thức”, nếu như hiểu rành máy vi tính trước rồi sau đó nghiên cứu Duy Thức thì có thể thích hợp hơn. Tôi viết quyển sách này là dụng ý thỉnh mời mọi người tham gia vào tri thức để lãnh hội đạo lý trong Phật pháp. Phật điển thì cao thâm, nhưng ở trong sanh hoạt thường ngày đều có thể lãnh ngộ được đạo lý trong Phật pháp. “Vạn Pháp Duy Thức”, người tu hành không luận tu pháp môn nào cũng đều tốt cả, tất nhiên ở trong pháp môn đó cần phải có một nhận thức rành mạch thì mới nên bắt đầu chọn lấy pháp tu, hơn nữa không đến nỗi khi đã thâm hậu môn phái mình thì  không lạnh nhạt pháp môn khác. Nguyên lý máy vi tính đã thấu suốt mà đi học Duy Thức thì sự học tập cụ thể hơn, cho nên chúng tôi hiểu được đây là một bước đầu nhập môn hết sức trọng yếu.

 

      Lời Nói Đầu của Trương Thông Văn nơi Thông Uyển Tịnh Cư

Ngày 16 tháng 11 năm 1983

 

DUY THỨC VỚI MÁY VI TÍNH

CHƯƠNG I

SỰ TỔ CHỨC CỦA MÁY VI TÍNH VÀ

CÔNG NĂNG CỦA TÁM THỨC LIÊN HỆ NHAU

      Bộ phận vô cùng trọng yếu của máy vi tính chính là nơi kết cấu tàng trử tài liệu. Phần cao cấp của máy vi tính ở chỗ là thiết kế tài liệu truyền vào và phát ra rất tinh tế phức tạpTài liệu sau khi truyền vào xong có thể sản xuất thành thiết bị mềm (phương tiện chương trình) để chuẩn bị sử dụng cho ngày mai. Về sau khi muốn giải quyết vấn đề gì chỉ cần bấm đúng loại mở thiết bị mềm và nương theo thứ tự ấn nút, liền có thể tìm được câu trả lời. Máy vi tính nếu ở góc độ đơn giản là thay thế người kế toán, còn ở gốc độ phức tạp là có thể cùng người đối thoại. Kế toán cũng đúng và đối thoại cũng hay, chúng nó đáp và hỏi đều là căn cứ theo trong bộ phận tàng trử tài liệu mà ra. Chỉ do nơi tài liệu truyền vào thì kỷ thuật cao cấp khiến cho máy vi tính bổng nhiên phát hiện cá tánh của một con người có thể cùng với chủ nhân thảo luận sự lý, đánh cờ, bài bạc, thậm chí phát sanh tánh tình gắt gỏng.

 

      Tổ chức của máy vi tính cùng với công năng của các phương diện khác có rất nhiều phương diện thích hợp và tương đồng nơi tám Thức của chúng sanh.

 

      Thứ nhất như trên đã trình bày, sở dĩ máy vi tính có thể vấn đáp, phân tích, cung cấp kế hoạch hoặc trò vui chơi..v..v…. đều do các tài liệu truyền vào. Nếu như đem tài liệu sai lầm phát lên máy vi tính thì nó trả lời lại cũng sai lầm, cho đến những sai lầm trong kho tàng trử nều được sửa chửa lại thì hết ngay.

 

      Thứ hai ngoài trên ra như bộ phận phụ tùng trong máy vi tính có chỗ hư hỏng thì cũng có thể làm cho sai mất các thứ tài liệu. Cho nên những phụ tùng và đường giây quyết định cần phảikiểm tra.

 

      Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn, Thân căn, cho đến Ý căn của chúng sanh, nghĩa là thông thường người ta đều nghe nói qua sáu căn, chúng đều có đủ công năng truyền vào. Nhưng mà chúng sanh từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay đã từng tàng trử rất nhiều tri kiến nơi trong Thức thứ tám. Thức thứ tám này tiếng Phạn gọi là “A Lại Da”,  mang ý nghĩa là “Tạng”. Công dụng của Tạng Thức này có bộ phận tàng trử giống như máy vi tính, đem tài liệukiến thức bắt đầu thâu chứa, mãi mãi không thể tự động tiêu diệt, trừ phi bản thân chúng sanh hành động khác đi là thâu vào tài liệu mới đem tiêu trừ kiến thức cũ. Bởi vì những kiến thức ngày xưa nhiều đời nhiều kiếp của chúng sanh đều là được xây dựng trên cơ bản phiền não như tham, sân, si, mạn, nghi..v..v.…, nếu như không phải thế thì không bị luân hồi thọ khổ, cho nên Phật Pháp gọi những tri kiến điên đảo đã thâu chứa này là “Nghiệp”, mà từ những thứ tri kiến này bắt đầu phát huy thứ năng lượng mê muội cho mình và cho người khác gọi là “Nghiệp Lực”. Hiện nay chúng sanh đương nhiên vẫn cứ truyền vào những tài liệu mới, chỉ cần những tài liệu truyền vào này quyết định hoà hợp là kẻ hở hết sức không tốt cho việc đối chiếu, nguyên vì sử dụng những tri kiến trước đó làm tiêu chuẩn cho nên cũng vẫn là điên đảo, khiến nghiệp lực càng thêm gia tăng. Hiện tượng điên đảo như thế xảy ra là do chưa có phản ứng đối chiếu trước khi từng bước duyệt xét. Có công năng đối chiếu đây chính là Thức “Mạt Na” của Tư Lương Năng Biến (công năng biến hiện suy nghĩ đắn đo) và cũng chính là Thức thứ bảy.  Ở trong máy vi tính cũng có một bộ phận như thế, chuyên phụ trách đối chiếu thứ tự. Khi đang kiếm tài liệu hoặc tìm câu trả lời, máy vi tính tiến hành trước là căn cứ theo chương trình tài liệu của bộ phận tàng trử làm một việc đối chiếu, nếu như phạm vi tài liệu tồn tại không có chương mục để hỏi, máy vi tính lại bày tỏ không thể trả lời. Còn một cái máy vi tính dùng vào việc sửa chữa xe hơi là để xem phương pháp giải đáp có quan hệ kiến trúc hoặc vấn đề khác của nó, thường gọi việc ấy là nguyên nhânTri kiến của chúng sanh phải trải qua sáu căn mà truyền vào hoặc truyền ra, nhưng truyền ra hoặc truyền vào ở trong bước đi tất nhiên phải trải qua sự đối chiếu của Thức thứ bảy. Thí dụ như đương lúc con mắt xem thấy đông tây giống nhau, đồng thời không thể khởi tác dụng. Lúc đó Thức thứ bảy mới y cứ nơi chỗ chứa tri kiến của Thức thứ tám mà phát khởi sự đối chiếu. Như trong ấn tượng này đồ vật làm có lợi hoặc tốt đẹp thì Thức thứ bảy tự tiếp công hàm quyết định của Thức thứ sáu tạo nên ưa thíchÝ Thức liền có thể trực tiếp khiến cho con mắt xem đồ vật ấy lâu hơn, khiến các bộ phận cơ thể khác tạo nên một phản ứng liên hệ, khiến cho nghiệp của Thức thứ tám càng sâu thêm, mà liên lụy đến nghiệp luân hồi của chúng sanh cũng càng thêm nặng. Nguyên do Thức thứ bảy quản lý công năng đối chiếu, liền khởi lên chấp trước vui mừngchán ghét, đồng thời quan niệm có một cái “Ngã”. Quan niệm việc ấy chỉ là một thứ cảm giác sai lầm, tạm có hư huyển, cho nên gọi là “Giả Ngã”. Cho nên khi người mừng vui không biết cái “Ngã” ưu sầu ở đâu, khi người ưu sầu lại dẹp cái “Ngã” lúc mừng vui không cho đến. Sự cảm thọ tư lương (suy nghỉ đắn đo) của con người biến hoá nhiều đầu mối, mỗi lúc mỗi loại, cho nên “Giả Ngã” cũng thiên biến vạn hoá theo, đưa đến kết quả đều là khổ. Vẻ già trước tuổi thì lại hiện ra rất rõ ràngTư tưởng của con người càng phức tạp, “Giả Ngã” biến hoá cũng nhiều, hơn nữa già yếu hưởng càng nhanh. Nhưng “Giả Ngã” thì không có luật định dừng lại, trừ phi nghiệp hoàn toàn cải biến trong Thức thứ tám. Chúng sanh phàm phu đã bị nghiệp lực ràng buộc, cho nên không thể thoát khỏi cái khổ già và chết.

 

      Tri kiến xuyên qua sáu căn mà đi vào, sau khi xuyên qua tư lương ngã chấp của Thức thứ bảy, liền cũng khiến con người khởi lên các thứ nhiễm trước mang theo đầy đủ thiên kiến, tạo thành chủ nhân của phiền não. Nguyên vì một số tri kiến này thường nhiễm trước sáu căn, trong kinh Phật gọi là vi trần, do bởi sáu căn mới có sáu trần. Tri kiến trước khi xuyên qua đối chiếu không phải là vi trần. Một khi xuyên qua đối chiếu, nguyên do phân biệt xuyên qua của Thức liền hoá thành vi trần, nhiễm trước nhân tâm khó mà xả bỏ. Ngược lại như các tri kiến truyền vào qua sáu căn, trong Thức không khởi phân biệt là các tri kiến không thể nhiễm trước tâm niệm, cho nên phàm phu cũng hiểu biết mà không thấy, cũng nghe mà không nghe, hoặc ăn mà không biết mùi vị của nó. Nhưng chân chánh không bị nhiễm trước là sau khi được thật chứng bốn trí, tức là Trí Đại Viên Cảnh, Trí Bình Đẳng Tánh, Trí Diệu Quan SátTrí Thành Sở Tác, thì tâm lúc đó mới có thể không thọ nhận các cảnh chuyển biết và tự do ra vào mười pháp giới không sanh phiền não.

 

      Thông thường con người khi sử dụng máy vi tính gặp rõ ràng cái công năng đối chiếu là căn cứ theo tài liệu truyền vào mà có, chỉ cần chuyển tài liệu đến cho người quá ư tự tín khi đặc tính tài liệu đó có thể tin cậy, lại nhận lấy tài liệu của điện não khác chẳng giống như nó. Lúc ấy liền sản sanh một thứ thái độ cố chấp tự mê, chẳng chịu nghe theo ý kiến của người khác. Bấy giờ do vì muốn duy trì cái địa vị danh dự tối cao ấy của nó với nhiều cách thu thập tài liệu truyền vào điện não này, lâu ngày tạo ra cá tánh tham nhiều, liền thành “Điện Não Điên Cuồng”. Thức thứ bảy cung cấp những cảm giác sai lầm của chúng sanh cũng giống như thế, nguyên do nó lấy tri kiến trong Tạng Thức làm căn cứ, thường khởi lên cái tự ngã tham ái, trong đó có cái tham của phiền não căn bản. Lại nữa nó thường cho cái ngã là tối thượng, nên chấp trước điên đảo tính mù quáng, trở thành đại si đại mạn, khiến cho ngã chấp liên tục không dứt, không có thể tự thoát khỏi.

 

      Công năng phân biệt nương nơi sáu căn để khởi chính là sáu Thức, tức là Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân ThứcÝ Thức. Các Thức nương nơi cảnh mà khởi phân biệt, sự quan hệ cấu tạolinh hoạt của nó, điện não của thế gian khó mà nhìn được phía sau lưng của nó. Năm Thưc trước chỉ có thể phát khởi phân biệt tự tánh, tức là từng có các công năng, như con mắt chỉ có thể xem thấy mà không thể nghe tiếng..v..v.……, còn loại suy diễn, Ý Thức  thì ngoài phân biệt tự tánh ra, lại có thể phân biệt theo niệm và phân biệt tính toán suy nghĩ. Ngoại trừ đây, Ý Thức cũng có thể đối với ngoại cảnh vượt qua năm Thức trước tiến hành phân biệt, trường hợp đây gọi là Ngũ Câu Ý ThứcÝ Thức cũng có thể tự phát khởi cảnh tượng mà tiến hành phân biệt, đây gọi là Độc Đầu Ý Thức.

Độc Đầu Ý Thức gồm có ba loại:

 

      1)- Mộng Trung Độc Đầu Ý Thức, tức là cảnh tượng thấy được ở trong 

            mộng.

      2)- Định Trung Độc Đầu Ý Thức, tức là cảnh tượng giả khởi khi ở trong 

            thiền định.

      3)- Tán Vị Độc Đầu Ý Thức, tứ là cảnh tượng trong giả tưởng.

 

      Độc Đầu Ý Thức tuy không dựa vào ngoại cảnh mà tự mình phát khởi hiện tượng, nhưng cũng không phải là trong cái không mà sanh ra cái có. Cảnh tượng của Thức này hiện ra đương nhiên với nghiệp lực đời trước có quan hệ ấn tượngChúng sanh trong sáu cõi phàm thường phát khởi Độc Đầu Ý Thức. Nhưng có năm thứ tình hình dưới đây mà Ý Thức không thể sanh khởi, tức là:

 

      1)- Cõi trời Vô Tưởng,

      2)- Thiền định Vô Tưởng,

      3)- Thiền định Diệt Tận,

      4)- Ngủ nghỉ không mộng

      5)- Vô cùng choáng váng.

 

      Ở năm ngôi vị trên đây, Ý Thức đều không thể sanh khởi.

 

      Nơi trên đạo lý cơ bản, sự truyền vào trong điện não, các thứ tự tàng trử và truyền ra tuy cùng với tám Thức có chỗ hợp tác, nhưng ở nơi phát triển dẫn đến trong từng lớp phức tạp, Thức có thể khiến chúng sanh cảm ứng nơi trong mười pháp giới, đó là công năng không thể nghĩ bàn. Ở điểm này, điện não thì lại hoàn toàn không có khả năng so sánh dự thảo. Đã sẳn có công năng huyền diệu, không ai bằng “Dị Thục Năng Biến” của Thức thứ tám và nó còn có khả năng dẫn đến quả báoThí dụ như con người do chủng tử nửa thiện nửa ác lại cộng thêm ngoại duyên để sanh ra quả dị thục, được thân con người kiếp sau thì đã quên hẳn thân kiếp trước và cũng không biết hậu quả như thế nào. Mặc dù cùng một điều kiện nơi Dị Thục Năng Biến mà sanh làm người, cũng có nhiều thứ phẩm loại, như nghèo, giàu, hiền, ngu..v..v…. trừ ngoài chủng tử ra nên biết còn có các nhân tố khác, như nghiệp lực đời trước và các thứ duyên số..v..v….  Cho nên dù rằng là đồng chứng quả Đẳng Lưu, ý kiến, tư tưởng, khẩu vị của mỗi người đều có chỗ không giống nhau. Về điểm này, nguyên nhân như thế nào cần nên nói rõ là người phàm phucõi Ta Bà chỉ giác ngộ nhơ nhớp, còn Phật Đà trụ ở cõi Ta Bà lại thấy hoàn toànlưu ly.

 

      Sự cấu kết của điện não và sự so sánh liên hệ với các Thức của chúng sanh, có thể tham khảo đồ hình hướng dẫn dưới đây. Đồ hình này được “phân tích của Linh Sơn Học Hiệu” với ngòi bút vụng về và đã từng sản xuất qua trong một quyển sách, hiện nay ở đây tái bản lần thứ nhất, để tiện cho những người tham khảo khi họ không có quyển sách nói trên.

 

     

                                                    Đồ Hình

 

CHƯƠNG II

ĐIỆN NÃO KHỐNG CHẾ NHÂN LOẠI ĐÁNG SỢ

 

      Ở vào thời đại 80 của cuối thế kỷ 20, điện não ứng dụng trong các nghề nghiệp đã tràn ngập vô cùng rộng lớn, sự sinh hoạt của con người chả ai mà không chịu quan hệ điện não. Con người ỷ lại vào điện não thì càng nhiều, cho nên đối với thế kỷ 21, sự sinh hoạt triển vọng của họ đều nhận thấy sẽ điện não hoá hoàn toàn. Nơi trong gia đình, công tác nấu cơm rau vô cùng trọng yếu, nào sử dụng khoa ăn uốngphương pháp nấu nướng cũng do điện não quyết định tất cả, thêm nữa máy ghi thời gian trong hệ thống điện não chỉ cần ấn nút bật điện là công việc nấu, hấp, rán, nướng đều thích hợp đến chỗ tốt đẹp. Còn việc quét dọn sạch sẽ thì có cơ giới của điện não không từ khó nhọc thay thế con người khống chế lấy và mỗi ngày 24 giờ công tác không đình chỉ cũng nên sử dụng nó. Lúc bấy giờ con người hoàn toàn không phải đi làm, chỉ cần ở trong nhà ráp mở cho xong hệ thống điện não, trong đó bao gồm cả truyền hình và dụng cụ chuyên chở cho đến không luận hội họp hoặc thảo luận không cần ra khỏi nhà mà vẫn có thể hoàn thành. Danh từ bưu điện đã thành công trên lịch sử, nguyên vì tất cả thông tin đều có thể trao lại qua hệ thống điện não mà đi lại nhanh chóng. Không chỉ mau lẹ mà lại còn có hệ thống phiên dịch, người giao việc có thể dùng bất cứ ngôn ngữ gì để truyền vào điện não, khi truyền ra đến nơi quốc gia nào, ngôn ngữ này cũng được phiên dịnh thành văn tự của quốc gia đó. Còn thứ điện não phiên dịch này cũng được đặt nơi trên máy điện thoại, con người cũng có thể dùng bất cứ ngôn ngữ nào để nói chuyện, đối phương khi tự nhận được liền phiên dịchtruyền đạt ngay.

 

      Lúc bấy giờ dùng con mắt làm mật mã trong việc chi tiêu hoặc rút tiền, hoàn toàn không phải chỉ là sáng tạo của điện ảnh mà còn sắp thành phương pháp sử dụng phổ thông. Lúc đầu giác mạc con mắt của con người hoàn toàn giống nhưng chỉ mô, mỗi cá nhân đều không giống nhau. Đặc biệt máy móc trước hết cầm bức ảnh của giác mạc đem xuống, sau đó truyền vào trong cực nhỏ của điện não, điện não liền tiếp nhận tự động bắt đầu cất giữ. Đến khi ứng dụng bước chi tiêu hoặc rút tiền chỉ cần đem bức ảnh của giác mô tạo nên một thứ sản xuất phim, máy móc đối chiếu của điện não liền tiếp nhận tra xét đến là có phải hay không và công việc ghi chép tồn trử trước kia có giống nhau không. Như thế thì mục chi tiêu liền mở rộng hoặc đưa ra khoản tiền, còn như không phải thế là mất phản ứng.

 

      Vấn đề chuông, lò nướng, xe hơi nói chuyện đối với đông và tây hoàn toàn cũng chẳng phải là hiếm có. Hiện thời công việc đòi hỏi sức người sanh hoạt rất nhiều, đến lúc cũng nên sữ dụng điện não để điều khiển. Thí dụ như việc “lái xe hơi” liền biến thành trực tiếp “hướng dẫn lái”, tức là sử dụng tiếng nói hướng dẫn điện não, khiến xe hơi lái đến chỗ mục đích. Còn điều trọng yếu hơn nữa là đổi mới về phương diện y dược. Phương thuốc và chẩn mạch thì giống nhau, riêng phân tích bệnh tình đưa đến giải phẩu..v..v…., tất cả đều sử dụng điện não để đảm đang, mà hơn nữa ở trên đặc tính chính xác, đặc tính tinh vi và tốc độ tỷ số ngưởi giỏi xuất hiện rất nhiều. Một nhóm gia đình y sĩ đã không còn trọng yếu nữa, các y sĩ đều biến thành chuyên gia y học điện não cũng từ sự phát minh hoàn toàn cao cấp của hệ thống điện não điều trị.

 

      Như thế cùng một thời đại điện não, con người sanh hoạt một thân có thể kiêm nhiều chức vụ mà cũng không cảm thấy bận rộn nhàm chán. Nguyên vì rất nhiều việc đều dùng đến điện não khống chế, tính toán cho được hoàn thành. Tức là khiến chỉ một ông Vương Lão Ngũ chạy hiệu ở bên ngoài suốt ngày mà đến khi chiều về nhà cũng sấp xếp được bữa cơm tối mùi vị thơm ngon để dùng, lý do điện não trong nhà bếp của ông ta sớm đã làm xong tất cả hoàn hảo đúng giờ.

 

      Con người trong thời đại ngày nay hoàn toàn giống nhau là đều ỷ lại vào điện lực và dầu xăng, con người trong thế kỷ 21 này hầu như cùng nhau trông cậy vào điện não thay thế sanh hoạt. Đúng như trường hợp trên nhân loại sẽ không biết, không giác ngộ được trong thời gian hoàn toàn chịu sự khống chế của điện não. Rất nhiều phương thức sanh hoạt đều đòi hỏi theo sự khống chế của điện não. Rất nhiều phương thức sanh hoạt đều đòi hỏi theo sự khả năng tánh cho phépphạm vi làm việc của điện não. Trên thị trường buôn bán tất cả đều do khả năng và hệ thống điện não phối hợp làm chuẩn. Mặt ngoài xem đến điện não giúp cho nhân loại mang đến sự tiến bộtiện lợi, nhưng khi phát triển quá độ, nhân loại trở nên bị nô lệ mà không tự biết. Đến lúc nào đó, vật thực quá nhiều không thể phối hợp với hệ thống điện não nhà bếp đều bị đào thải hết, y phục không hợp với hệ thống điện não giặt áo thì không còn chế tạo trở lại lần nữa. Đồ dùng trong học đường, máy móc của y viện, thiết bị của quân sự, công cụ giao thông, đồ vật vui chơi không có vật nào mà không chịu sự khống chế của điện não cả.

 

      Cứ như thế phát triển về sau, bổng nhiên có một ngày toà án xử tội lại cũng sử dụng

Bài viết liên quan

Duy Thức Học (Thích Thiện Hạnh )

PHẬT LỊCH 2561DUY THỨC HỌCBÁT THỨC QUY CỦ TỤNG & DUY THỨC TAM THẬP TỤNGTạo luận: Thế Thân (Vasubandhu) | Hoa dịch: Huyền TrangViệt dịch, giải: Tỷ kheo Thiện HạnhPHẬT HỌC VIỆN KIM QUANG-HUẾ MỤC LỤC Nội dung trang I. Vài nét đại cương về Duy thức học 1. Khởi nguyên 2. Duy thức 3. Tâm và […]

Xem thêm

Vô Trước (Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia)

VÔ TRƯỚCBách khoa toàn thư mở Wikipedia Đại luận sư Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (sa. śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (sa. paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một […]

Xem thêm

Vạn pháp qua cái nhìn của Duy Thức

. Vạn Pháp Qua Cái Nhìn Duy Thức

Xem thêm

Vấn Đề Thức

VẤN ĐỀ THỨCNguyên tác: The Question of ConsciousnessTác giả: Đức Đạt Lai Lạt MaChuyển ngữ: Tuệ Uyển   Niềm vui của việc gặp gở những người ta yêu, nổi buồn của việc mất mát người thân, sự phong phú của của những giấc mơ đầy sức sống, sự an bình của những bước chân qua […]

Xem thêm

Vấn Đáp Về Tâm Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: VẤN ĐÁP VỀ TÂM THỨCTác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Tuệ Uyển chuyển ngữ – 15/05/2011 HỎI: Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế […]

Xem thêm