DUY THỨC HỌC YẾU LUẬN ( Bài 3 )

DUY THC HC YU LUN
Hòa Thượng Thích Từ Thông
Huỳnh Mai Tịnh Thất – Sàigòn 1992 – Phật Lịch 2536

 Bài Thứ Ba

Hỏi: Đã nói về thức năng biến thứ nhất rồi. Vậy thức năng biến thứ hai sự hiện hữu của nó ra sao?

Bài Tụng Duy Thức Đáp:

Thức Năng Biến Thứ Hai
Tên Gọi Là Mạt Na
Từ A Lại Da… Ái A Lại Da
Tính Tướng Háo Suy Lường

Bốn Phiền Não Thường Chung
Là Ngã Si Ngã Kiến
Cùng Ngã Mạn Ngã Ái
Xúc, Tác Ý… Tương Ưng

Hữu Phú Vô Ký Tánh
Khắng Khít A Lại Da
A La Hớn, Diệt Định
Đấng Xuất Thế Không Còn

Giải Thích Thuật Ngữ:

Mạt naTrung Hoa dịch là ý căndựa trên tính “tư lương”, tính “chấp ngã” để rồi sinh ngã singã kiếnngã mạnngã áiMạt na là cơ sở làm chỗ nương tựa để ý thức phát sinh phân biệtVì vậy, có tên “ý căn”. Mạt na theo thứ tự có tên “đệ thất thức”, tức là món năng biến thứ hai vậy.

Suy lường: Dịch chữ tư lương. Tính suy lường của “tư lương” khác với tính toán nghĩ ngợi của “tư duy” phân biệt. Suy lường của “tư lương” như sóng ngầm. Tính toán phân biệt của “tư duy” như sóng lượn ồ ạt lao xao trên mặt biển.

Si kiến mạn áiThức Mạt na do ngã, vì ngã và cho ngã mà hiện hữu. Ngoài ngã ra, Mạt na không có tích sự nào khác. Vì vậyMạt na bản chất vốn nhiễm ô rồi.

Hữu phú vô ký: “Hữu phú” nói lên tính nhiễm ô bản chất của thức Mạt na.

A la hớn: Dịch vô sinhsát tặcứng cúng. Đấy là quả vị của người đoạn trừ hết Kiến Tư hoặc trong nhân, là người xuất ly tam giới.

Diệt định: Nói đủ: Diệt Tận Định, người tu thiền định, diệt được sự phân biệt của tiền thức và ý niệm chấp ngã không còn.

Xuất thế đạo: Từ A La Hớn trở lên, cứu cánh là quả Vô Thượng Bồ Đề.

Yếu Luận

Mạt na thức lả năng biến thứ hai trong ba món năng biến và là thức thứ bảy trong tám thức tâm vương. Mạt naPhạn âm, Trung Hoa dịch ý căn. Nó là chỗ nương tựa, cơ sở của ý thức thứ sáu, phát triển tư duy phân biệtVì vậy, tính, tướng, bản chất của Mạt na là “Tư lương”. Mạt na không có tính độc lập, tự sinh, tự khởi. Sự sinh khởi Mạt na hoản toàn hệ thuộc A lại daMạt na là “ngã ái chấp tàng” trong ba nghĩa tàng. Mạt na chấp lấy Kiến phần A lại dabảo thủ tính chấp của mình khư khư theo “ức thuyết”, không chuẩn đích, không căn cứ và hoàn toàn không chân lýKiến phần cũng như Tướng phần của A lại da đều là pháp hiện tượng duyên sinhvũ trụ sơn hà, sum la vạn tượng… tất cả đều “vô ngã”. Thế cho nên, ngã của Mạt na chấp chỉ là “ngã si”, “ngã kiến”, “ngã mạn”, “ngã ái”, không chân lý, không chút thực tiễn nào. Mạt na chấp ngã là sự vin chấp nội tại của A lại daNgã ái chấp tàng của A lại da vin chấp Kiến phần của A lại da để rồi “ức thuyết” thành “bản ngã” bởi chính mình. Vì vậy, bài tụng Duy thức:

“Từ A lại da… ái A lại da”

Nên biết, tám thức tâm vương đều giống nhau. Thức nào cũng có bốn phần. Đó là: Kiến phầnTướng phầnTự chứng phần và Chứng tự chứng phần. Bốn phần này, ta mượn một tỷ dụ để có khái niệm: 1. Xem hoa; 2. Cành hoa; 3. Nhận định hoa; 4. Đánh giágiá trị hoa. Mỗi một thức khi phát khởi đều phải diễn biến theo một quá trình: Chủ thể nhận thức, đối tượng nhận thứcnhận thức đối tượng và đánh giá đối tượng ấy. Ta cũng có thể mượn tỷ dụ thứ hai: 1. Người viết đơn kiện; 2. Người bị kiện; 3. Quan toà xử lý kiện; 4. Viện kiểm soát tối cao (cơ sở luật pháp). Bốn phần liên hợp lạitác dụng hỗ tương nhau để hoàn thành kết quả của một “Thức“, khi thức đó sinh khởi.

Mạt na thức bản chất vốn nhiễm ô, tánh hữu phú vô ký nói lên sự nhiễm ô chấp ngã, là nguyên nhân sinh ra mọi thứ phiền não, mọi nỗi thống khổ cho con người trên cõi đời. Mạt na thức, tánh hữu phú vô ký điều này nói lên rằng mạt na thức nhiễm ô từ bản chất. Bốn phiền não thường chung cùng sinh khởi thì hiện tượng cũng chẳng trong sạch được.

Mạt na thức cũng như bát thức tâm vương đương nhiên đều có tương ứng với nhóm tâm sở biến hành: xúc, tác ý v.v… Ngoài ra còn một số…

Mạt na thức “tùy sở sinh sở hệ” có nghĩa là Mạt na khắng khít gắn bó chặt với A lại da. Không có A lại da, không tìm đâu cho có Mạt na được. Cũng như không có thủ tướng, không sao có “vệ sĩ” thủ tướng trên cõi đời.

Có ba hạng người do công phu tu chứng mà loại bỏ Mạt na thức. Một là người tu chứng đến quả A la hớn. Hai là người tu chứng Định Diệt Tận. Ba là Phật Thế Tôn.

“Ngã” cộng với “ngã sở hữu” là tiêu chuẩn, là thước, để đo, để đánh giá: tiến trình học đạohành đạo và chứng đạo của người đệ tử Phật, chân chính và không chân chính vậy.

Bài viết liên quan

Duy Thức Học (Thích Thiện Hạnh )

PHẬT LỊCH 2561DUY THỨC HỌCBÁT THỨC QUY CỦ TỤNG & DUY THỨC TAM THẬP TỤNGTạo luận: Thế Thân (Vasubandhu) | Hoa dịch: Huyền TrangViệt dịch, giải: Tỷ kheo Thiện HạnhPHẬT HỌC VIỆN KIM QUANG-HUẾ MỤC LỤC Nội dung trang I. Vài nét đại cương về Duy thức học 1. Khởi nguyên 2. Duy thức 3. Tâm và […]

Xem thêm

Vô Trước (Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia)

VÔ TRƯỚCBách khoa toàn thư mở Wikipedia Đại luận sư Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (sa. śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (sa. paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một […]

Xem thêm

Vạn pháp qua cái nhìn của Duy Thức

. Vạn Pháp Qua Cái Nhìn Duy Thức

Xem thêm

Vấn Đề Thức

VẤN ĐỀ THỨCNguyên tác: The Question of ConsciousnessTác giả: Đức Đạt Lai Lạt MaChuyển ngữ: Tuệ Uyển   Niềm vui của việc gặp gở những người ta yêu, nổi buồn của việc mất mát người thân, sự phong phú của của những giấc mơ đầy sức sống, sự an bình của những bước chân qua […]

Xem thêm

Vấn Đáp Về Tâm Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: VẤN ĐÁP VỀ TÂM THỨCTác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Tuệ Uyển chuyển ngữ – 15/05/2011 HỎI: Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế […]

Xem thêm