Duy Thức Tam Thập Tụng

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG
(30 BÀI TỤNG CỦA DUY THỨC)
Tác giả Thế Thân
Thích Thắng Hoan giảng giải.

Duy-Thuc-Tam-Thap-Tung-HT-Thich Thang Hoan*- Lời Vào Đề:

      Kính thưa quý đọc giả thân mến, tác phẩm Duy Thức Tam Thập Tụng của Bồ Tát Thế Thân đã được rất nhiều Hoà Thượng, Thượng Toạ Đại Đức Tăng Ni hữu học dịch giải ra Việt Ngữ và cũng đã trình bày qua nhiều lăng kính tư tưởng sáng tạo và nhờ đó nền văn học Duy Thức càng ngày trở nên càng phong phú. Theo lẽ tôi không cần phải dịch lại nữa thêm thừa, nhưng sau khi đọc lại toàn bộ Duy Thức Tam Thập Tụng và nhìn qua các lối dịch giải của những bậc cao minh, tôi bỗng nhiên phát hiện thêm một tư tưởng mới của một khía cạnh khác từ bộ Duy Thức này. Tôi liền mạo muội dịch giải lại lần nữa để góp vào văn học Duy Thức thêm phần phồn vinh, nhất là để cống hiến đến quý đọc giả một cái nhìn mới mẻ không kém phần thú vị trên cuộc hành trình tham quan trong vườn hoa tư tưởng. Điều đặc biệt hơn nữa, nội dung của Duy Thức Tam Thập Tụng được diễn đạt qua bốn lãnh vực, lãnh vực Duy Thức Tướng, lãnh vực Duy Thức Tánh, lãnh vực Duy Thức Hạnh và lãnh vực Duy Thức Quả.

1-    Lãnh vực Duy Thức Tướng: kể từ bài tụng thứ 1 đến bài tụng thứ 20, đều trình bày rõ nét về Duy Thức Tướng, tức là chỉ rõ sự sinh hoạt của Duy Thức;

2-    Lãnh vực Duy Thức Tánh: kể từ bài tụng thứ 21 đến bài tụng thứ 25, đều  trình bày đặc tánh của Duy Thứcgiá trị của mỗi đặc tánh.

3-    Lãnh vực Duy Thức Hạnh: kể từ bài tụng thứ 26 đến bài tụng thứ 28, đều trình bày phương pháp và tiến trình tu tập Duy Thức Quán.

4-    Lãnh vực Duy Thức Quả: kể từ bài tụng thứ 29 đến bài tụng thứ 30. Đều trình bày sự thành quả tu tập của Duy Thức Quán.

      Có thể khẳng định, Duy Thức Tam Thập Tụng là một tác phẩm vô cùng quý giá cho những ai muốn bước vào khu rừng Duy Thức và nó cũng là kim chỉ nam định hướng đức tin cho cuộc hành trình nhận thức khỏi bị lầm đường lạc lối. Người tu học muốn có đức tin chân chánh nên gối đầu tác phẩm này. Tôi chân thành xin gởi đến quý đọc giả bốn phương món quà thân thương trao tặng.

Dịch giải xong ngày 20 tháng 9 năm 2019.

Trung Tâm Phiên DịchSáng Tác.
Chùa Quật Quang
Thích Thắng Hoan.

 

 I.- Lược Sử: Tiểu sử sơ lược của ngài Thế Thân.

      Tiểu sử của ngài Thế Thân đã được rất nhiều sách sử giải thích tường tận và cũng được rất nhiều nhà giải thích chi li sâu xa, cụ thể được thấy trên mạng. Ở đây, nhất là trong chủ đề này, không cần giải thích thêm thừa, tôi chỉ ghi lại sơ lược tiểu sử của Ngài để làm môi trường duyên khởi vào đề cho sự giảng giải Duy Thức Tam Thập Tụng của ngài sáng tác.

      Thế Thân là một vị Bồ Tát, có tên nữa là Thiên Thân, sanh tại Bá Lộ Sa (Purusapura), bây giờ là thành phố Peshawar thuộc vương quốc Kiều Đà La (Gandhara) nơi Bắc Ấn; Ngài sanh vào khoảng 316 Tây Lịch, tức là năm 860 sau đức Phật tịch diệt. Ngài là người con thứ hai của gia đình Bà La Môn, cha là Kiều Thi Ca (Kausika), mẹ là Tỷ Lân Trì (Virinci).

      Ngài có một người anh và một người em gái, người anh là Vô Trước (Asanga), thuộc tu sĩ Đại Thừa, người em gái là Tỷ Lân Trì Tử (Virincivatsa), lại ttheo Tiểu Thừa.

      Ngài trước kia cũng theo Tiểu Thừa, sáng tác bộ luận gọi là Câu Xá Luận, có chỗ gọi là A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, về sau Ngài theo Đại Thừa trước tác trên 300 bộ luận, trong đó có bộ luận gọi là Duy Thức Tam Thập Tụng, là bộ luận xuất sắc nhất, làm nền tảng căn bản cho Tông Phái Duy Thức (Duy Thức Tông). Duy Thức Tam Thập Tụng, trong đó bao gồm Tánh, Hạnh, Quả; Tánh là Duy Thức Tánh (thể tánh của Duy Thức), Hạnh là Duy Thức Hạnh (phương pháp tu hành của Duy Thức) và Quả là Duy Thức Quả là sự chứng quả của Duy Thức). Giờ đây chúng ta tìm hiểu nghĩa lý của Duy Thức Tam Thập Tụng.

II.- Vào Đề:

1.- Bài Tụng Thứ Nhất:

Chữ Hán:

Do giả thuyết ngã pháp

Hữu chủng chủng tướng chuyển

Bỉ y thức sở biến

Thử năng biến duy tam.

Nghĩa danh từ:

Do: lý do, nguyên nhân;

Giả thuyết: tạm nói đến, tạm đề cập đến;

Ngã Pháp: ngã tướngpháp tướng;

Bỉ: chỉ cho ngã pháp

Y: nương tựa,

Thức: tâm thức

Y Thức: nương nơi tâm thức

Sở: để, nơi chỗ,

Biến: biến hiện

Sở Biến: để biến hiện ra

Thử: chỉ cho tâm thức

Năng: năng lực, công năng,

Biến: biến hiện, chuyển biến hiện ra    

Năng Biến: năng lực biến hiện

Duy: chỉ có

Tam: số ba.

Duy tam: chỉ có ba loại.

Nghĩa Bài Tụng:

     Lý do (do) tạm nói đến (giả thuyết) ngã pháp nào, tức thì có (hữu) tướng ngã, tướng pháp đó chuyển biến hiện ra. Ngã tướng pháp tướng đó (bỉ) đều nương nơi Tâm Thức (y thức) để biến hiêän. Năng lực biến hiện (năng biến) của Tâm Thức đó (thử) gồm có ba loại (duy tam).

Giải thích bài Tụng: 

     Mỗi lần chúng ta bàn đến ngã pháp nào, tức thì ngã tướng, pháp tướng đó chuyển biến hiện ra ngay trong đầu não chúng. Thí dụ: chúng ta nói đến Hoà thượng Thích Thiện Hoa, Hoà Thượng Thích Thanh Từ… tức thì hình tướng Hoà Thượng Thích Thiện Hoa, Hoà Thượng Thích Thanh Từ (Ngã Tướng) hiện ra ngay trong đầu não chúng ta. Cũng giống như thế chúng ta đến thành phố Sài Gòn, thành phố Nha Trang… tức thì hình tướng thành phố Sài Gòn, thành phố Nha Trang hiện ra ngay trong đầu não chúng ta. Từ đó mới có hai câu: “Do giả thuyết ngã pháp, hữu chủng chủng tướng chuyển”.

      Ngã tướng, pháp tướng đó đều nương nơi Tâm Thức để biến hiện, nếu như khôngTâm Thức để biến hiện thì chúng ta không thể nhớ lại những hình ảnh, những công trình học hỏi, những kiến thức tích lũy mấy chục năm qua mà chúng ta muốn nhớ. Cho nên mới có câu: “Bỉ y thức sở biến”. Tâm Thức mới có năng lực để biến hiện, ngoài Tâm Thức này ra không ai có năng lực để biến hiện, cho nên gọi là Duy Thức.  Năng lực biến hiện của Tâm Thức chia làm ba loại, cho nên  có câu: “Thử năng biến duy tâm”. Bài Tụng này là vào đề của Duy Thức Tam Thập Tụng. Đây là ý nghĩa bài Tụng thứ nhất.

2.- Bài Tụng Thứ Hai:

Chữ Hán:

Vị: Dị Thục, Tư Lương

Cập Liễu Biệt Cảnh Thức

A Lại Da Thức

Dị Thục, Nhất Thiết Chủng.

Nghĩa danh từ:

Vị: gọi là, đấy là

Dị Thục: Thức Dị Thục

Tư Lương: Thức Tư Lương

Cập: và

Liễu Biệt Cảnh Thức: Thức Liễu Biệt Cảnh

Sơ: đầu tiên

A Lại Da: Thức A Lại Da

Dị Thục: Thức Dị Thục

Nhất Thiết Chủng: Thức Nhất Thiết Chủng.

Nghĩa bài tụng:

Đấy là Thức Dị Thục, Thức Tư Lương và Thức Liễu Biệt Cảnh. Đầu tiên Thức A Lại Da, Thức Dị Thục và Thức Nhất Thiết Chủng.

Giải thích bài tụng:

      Bài Tụng này trình bày danh xưng của mỗi Tâm Thức; trước hết là Tâm Thức Dị Thục. Tâm Thức này là căn cứ nơi nhân quả mà đặt tên. Dị là chưa, Thục là chín mùi, kết thành hoa quả; Nhân Dị Thụchạt giống chưa kết thành hoa quả; Nhân Dị Thục (hạt giống) muốn thành hoa quả thì phải nhờ Thức Dị Thục đứng ra xây dựng, Thức Dị Thục nếu không đứng ra xây dựng hoặc xây dựng, nữa chừng rút lui thì Nhân Dị Thục đó không thể thành hình; thí dụ: Trứng gà (nhân dị thục) nếu không có Thức Dị Thục đứng ra xây dựng thì không thể thành gà con; noãn châu của người mẹ (nhân dị thục), nếu không có Thức Dị Thục đứng ra xây dựng thì không thể sanh con, biến thành kinh nguyệt, nếu xây dựng nữa chừng rút lui thì bị hư thai; hạt đậu xanh (nhân dị thục) khi nẩy mầm, nếu không có Thức Dị Thục đứng ra xây dựng thì không thành hoa trái, trở thành mất giống… Căn cứ nơi Nhân Dị Thục (hạt giống) mà đặt tên cho Thức Dị Thục.

      Thức Tư Lươngtâm thức so đo chấp trước, tính toán lợi hại và không lợi hại (vô ký). Đối với quả tướng, Thức này so đo chấp ngãchấp pháp, đây là tôi, kia không phải là tôi; đây là nhà của tôi, kia là không phải là nhà của tôi. Tính toán hơn thưa, đây là quyền lợi của tôi, kia là không phải quyền lợi của tôi… Còn đối với chủng tử tướng trong Thức Tạng, Thức này chấp trước, nghĩa là quản lý tất cả chủng tử thiện ácvô ký, so đo phân loại sắp xếp chủng tử  thiện theo loại thiện, chủng tử ác theo loại ác, chủng tử vô ký theo loại vô ký; tính toán lợi hại và không lợi hại (vô ký), chủng tử nào lợi ích đi theo giống của nó để thành quả lợi ích, chủng tử nào tổn hại đi theo giống của nó để thành quả tổn hại, chủng tử nào không lợi hại (vô ký) đi theo giống của nó để thành quả không lợi hại (quảvô ký). Con người nếu không có Thức này quản lý tất cả hồ sơ tu học trong Thức Tạng thì bao nhiêu công trì đào luyện đều bị tan biến tiêu mất.

      Thức Liễu Biệt Cảnh; Liễu là rõ rành, tường tận; Biệt là phân biệt để hiểu biết; Cảnh là cảnh tướng đối tượng; Thức Liễu Biệt Cảnh nghĩa là tâm thức phân biệt những cảnh tướng đối tượng một cách tường tận để hiểu biết. Thức Liễu Biệt Cảnh là danh xưng chung, trong đó bao gồm có sáu loại:

      1.- Nhãn Thức phân biệt hiểu biết sắc trần,

      2.- Nhĩ Thức phân biệt hiểu biết thinh trần,

      3.- Tỷ Thức phận biệt hiểu biết hương trần

      4.- Thiệt Thức phân biệt hiểu biết vị trần

      5.- Thân Thức phân biệt hiểu biết xúc trần,

      6.- Ý Thức phân biệt hiểu biết pháp trần.

      Sáu Tâm Thức này gọi chung là Thức Liễu Biệt Cảnh.

      Tiếp theo, đầu tiên là Thức A Lại Da, Thức này gồm có ba tên: A lại Da, Dị ThụcNhất Thiết Chủng.  

      Trước hết, A lại Da, dịch âm tiếng Phạn là Alaya, nghĩa là Thức Tạng, tức là Thức tàng trử, Tâm Thức này có công năng dùng làm kho chứa tất cả chủng tử thiện ácvô ký của vạn pháp trong thế gian. Đây là chỉ cho thể tánh của Tâm Thức.

      Thức Dị Thục, như trên đã giải thích, là tên khác của Thức A lại Da, tức là phần tác dụng của Thức A Lại Da an trụ vào Nhân Dị Thục để sanh thành, Thức này cũng gọi là Kiến Phần (phần tác dụng) của Thức A lại Da.

      Thức Nhất Thiết Chủng cũng là tên khác của Thức A lại Da, là căn cứ nơi tất cả chủng tử mà đặt tên cho Thức này, nguyên vì tất cả chủng tử của vạn pháp ngoài Thức này tàng trử, không có Thức nào vật nào thay thế, nên gọi là Thức Nhất Thiết Chủng. Đây là ý nghĩa bài Tụng thứ hai.

3.- Bài Tụng Thứ 3:

Chữ Hán:

Bất khả tri chấp, thọ,

xứ, liễu, thường dữ Xúc,

Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư,

tương ưng duy Xả Thọ.

Nghĩa danh từ:

Bất khả tri: không thể biết được,

Chấp: giữ gìn, bảo trì,

Thọ: tiếp nhận,

Xứ: nơi chốn,

Liễu: rõ rành, tường tận,

Thường: luôn luôn,

Dữ: cùng với

Xúc: tiếp xúc,

Tác Ý: móng tâm chú ý,

Thọ: tiếp nhận,

Tưởng: nghĩ tưởng,

Tư: hành động

Tương Ưng: quan hệ

Duy: chỉ có

Xã Thọ: bỏ tiếp nhận, tức là Vô Ký

Nghĩa bài Tụng:

      Không thể biết được một cách tỏ tường (liễu), nơi chốn (xứ) phát sanh những chủng tử ảo giác (ảnh tử lạc tạ) mà Thức A lại Da này tiếp nhậnbảo trì. Thức này luôn luôn (thường) quan hệ (tương ưng) với các Tâm Sở như: Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư; đặc biệt nó (Thức A lại Da) chỉ quan hệ với Xả Thọ (vô ký).

Giải thích bài Tụng:

      Tâm thức A lại Da không thể biết được một cách tỏ tường (liễu) nơi chốn (xứ) phát sanh những chủng tử ảo giác mà nó tiếp nhận (thọ) và bảo trì (chấp). Nguyên do Thức này không thể hiểu biết trực tiếp các cảnh giới bên ngoài, vì bị năm Tâm sở Biến Hành ngăn cách và bao che. Tâm thức A lại Da cũng như ông vua làm chủ hiểu biết (tân vương); năm tâm sở Biến Hành cũng như năm ông cận thần bao quanh ông vua; ông vua muốn hiểu biết điều gì bên ngoài, nhưng không thể trực tiếp, phải qua sự báo cáo của năm ông cận thần. Năm ông cận thần báo cáo điều gì thì ông vua chỉ biết điều đó, ngoài ra không thể hiểu biết điều nào khác. Cũng thế, Tâm thức A lại Da chỉ có khả năng hiểu biết những chủng tử ảo giác bên ngoài do năm Tâm sở Biến Hành cung cấp, ngoài ra Tâm Thức này bất lực. Năm Tâm sở Biến Hành gồm có: Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng và Tư. Riêng Tâm sở Thọ gồm ba loại: Lạc Thọ, Khổ ThọXả Thọ (Vô Ký); nhưng Tâm thức A Lại Da chỉ quan hệ với chủng tử Xả Thọ (vô ký) để hiểu biết.

4.- Bài Tụng Thứ Tư:

Chữ Hán:

Thị Vô Phú, Vô Ký,

Xúc đẳng diệc như thị,

Hằng chuyển như bộc lưu,

A La Hán vị xả.

Nghĩa danh từ:

Thị: là

Vô Phú: không bị ngăn che,

Vô Ký: không nhất định thiện hay ác,        

Xúc: tiếp xúc, là chỉ cho Tâm sở Xúc,

Đẳng: vân vân,

Diệc: cũng,

Như Thị: như thế,

Hằng: luôn luôn,

Chuyển: chuyển động,

Hằng chuyển: luôn luôn chuyển động,

Như: giống như,

Bộc lưu: thác nước đổ xuống dốc,

Vị: bậc, địa vị,

Xả: bỏ, hủy bỏ,

Nghĩa bài Tụng:

      Đặc tánh của Thức A lại Da là vô phú (không bị ngăn che), vô ký (không nhất định thiện hay ác) . Tâm sở Xúc vân vân cũng như thế. Thức này luôn luôn chuyển biến giống như dòng thác nước đổ xuống dốc. Đến địa vị A La Hán mới xả bỏ tên A Lại Da.

Giải thích bài Tụng:

      Đặc tánh của Tâm thức A Lại Da là không bị ngăn che (vô phú) và không nhất định thiện hay ác (vô ký, thuộc lại trung tính). Cho đến Tâm sở Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư, năm Tâm sở Biến Hành cũng đều giống như thế, nghĩa là cũng thuộc loại không bị ngăn che (vô phú) và không nhất định thiện hay ác (vô ký). Thức này luôn luôn chuyển biếndi động không ngừng, giống như dòng thác nước liên tục đổ xuống dốc. Khi tu đến địa vị A La Hán, tên Thức A lại Da mới xả bỏ chuyển thành trí tuệ Đại Viên Cảnh.

5.- Bài Tụng Thứ Năm:

Chữ Hán:

Thứ đệ nhị năng biến

Thị Thức danh Mạt Na

Y bỉ chuyển duyên bỉ

Tư lương duy tánh tướng.

Nghĩa danh từ:

Thứ: kế đến,

Đệ nhị: thứ hai,

Năng Biến: năng lực biến hiện,

Thị: là, tức là,

Thức danh Mạt Na: thức tên là Mạt Na.

Y: nương tựa,

Bỉ: kia, tức là chỉ cho Thức A Lại Da,

Chuyển: chuyển biến sanh khởi,

Vi: làm,

Tư Lương vi tánh tướng: Tư Lương làm tánh của Thức này.

Nghĩa bài Tụng:          

      Kế đến là Thức Năng Biến thứ hai; Thức này mang tên Mạt Na; nó nương nơi Thức A Lại Da để chuyển biến sanh khởitrở lại duyên chấp A lại Da làm ngã của mình. Đặc tánh của Tâm Thức này là so đo chấp ngã.

Giải thích bài Tụng:

      Tánh chất, ý nghĩagiá trị của Tâm Thức Tư Lương đã giải thích kỹ trong bài Tụng thứ hai. Bài Tụng ở đây chỉ trình bày rõ thêm đặc tánh của Tâm Thức này, theo bài tụng, nguồn gốc phát sanh ra tâm thức Tư Lương chính là kiến phần (phần tác dụng) của Tâm thức A la Lại Da, khi kiến phần thức này tác dụng chun vào nghiệp tướng mang tên Tư Lương để hình thành danh xưng. Thật ra kiến phần tâm thức A Lại Da không có vấn đề so đo chấp trước, nhưng vì trụ vào nghiệp tướng tư lương cho nên trở thành bệnh căn kiên cố. Thí dụ như, năng lượng điện của nhà điện (kiến phần A Lại Da) không có vấn đề phát hình (không có vấn đề tư lương), nhưng dòng điện chun vào máy phát hình (nghiệp tướng tư lương) liền trở thành điện phát hình (liền trở thành tâm thứ tư lương).

      Hơn nữa, Tâm thức Tư Lương luôn luôn chấp trước kiến phần tâm thức A Lại Da trong mỗi nghiệp tướng của con người, của chúng sanh hữu tình chấp làm bản ngã của mình. Nhưng thực tế, nhìn sâu thêm nữa, Kiến Phần Tâm thức A lại Da trong nghiệp tướng của mỗi con người, của mỗi chúng sanh hữu tình không phải là bản ngã, mà bản ngã đây chính là nghiệp tướng để Tâm thức Tư Lương so đo chấp trước. Từ đấy, Kiến Phần Tâm thức A Lại Da trong tự ngã được mệnh danh là Tâm thức Tư Lương.

6.- Bài Tụng Thứ Sáu:

Chữ Hán:

Tứ phiền não thường câu

Vị ngã si, ngã kiến,

Tịnh ngã mạn, ngã ái,

Cập dư xúc đẳng câu.

Nghĩa danh từ:

Tứ: là bốn,

Thường: luôn luôn,

Câu: tương ưng, quan hệ,

Vị: gọi là,

Cập: và,

Dư: ngoài ra,

Đẳng: vân vân.

Nghĩa bài Tụng: 

      Thức Năng Biến thứ hai (Mạt Na) thường quan hệ (thường câu) với bốn thứ phiền não như là: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Cho đến (cập), ngoài ra (dư), nó còn quan hệ (câu) với năm Tâm Sở Biến Hành là Xúc vân vân.

Giải thích bài Tụng:

      Tâm Thức Tư Lương này cũng giống như Tâm Thức A lại Da cũng bị ngăn cách bao che của năm Biến Hành, không cho tiếp xúc thẳng với ngoại cảnh để hiểu biết, và Tâm Thức nếu muốn hiểu biết ngoại cảnh phải qua sự cung ứng và chỉ điểm của năm Biến Hành này. Hơn nữa nó còn bị bốn tức phiền não căn bản trực tiếp lôi cuốn không thể thoát ly. Bốn thứ phiền não gồm có: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Ngã si, nghĩa là chấp ngã một cách ngu si, mệ muội, bảo vệ ngã một cách điên cuồng, không phân biệt phải quấy, đúng sai; Ngã Kiến, nghĩa là chấp ngã một cách kiên cố, không chịu sửa đổi, ai khuyên cũng không nghe; Ngã Mạn, nghĩa là kiêu căn, ngạo mạn cho ngã trên hết; Ngã Ái, nghĩa là chấp ngã một cách luyến ái, tìm mọi cách để cho bản ngã được thoả mãn.

7.-

Bài viết liên quan

Duy Thức Học (Thích Thiện Hạnh )

PHẬT LỊCH 2561DUY THỨC HỌCBÁT THỨC QUY CỦ TỤNG & DUY THỨC TAM THẬP TỤNGTạo luận: Thế Thân (Vasubandhu) | Hoa dịch: Huyền TrangViệt dịch, giải: Tỷ kheo Thiện HạnhPHẬT HỌC VIỆN KIM QUANG-HUẾ MỤC LỤC Nội dung trang I. Vài nét đại cương về Duy thức học 1. Khởi nguyên 2. Duy thức 3. Tâm và […]

Xem thêm

Vô Trước (Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia)

VÔ TRƯỚCBách khoa toàn thư mở Wikipedia Đại luận sư Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (sa. śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (sa. paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một […]

Xem thêm

Vạn pháp qua cái nhìn của Duy Thức

. Vạn Pháp Qua Cái Nhìn Duy Thức

Xem thêm

Vấn Đề Thức

VẤN ĐỀ THỨCNguyên tác: The Question of ConsciousnessTác giả: Đức Đạt Lai Lạt MaChuyển ngữ: Tuệ Uyển   Niềm vui của việc gặp gở những người ta yêu, nổi buồn của việc mất mát người thân, sự phong phú của của những giấc mơ đầy sức sống, sự an bình của những bước chân qua […]

Xem thêm

Vấn Đáp Về Tâm Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: VẤN ĐÁP VỀ TÂM THỨCTác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Tuệ Uyển chuyển ngữ – 15/05/2011 HỎI: Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế […]

Xem thêm