Giới Thiệu Thuận Quyết Trạch Phần Từ A-tỳ-đạt-ma Câu-xá Đến Thành Duy Thức Luận

GIỚI THIỆU THUẬN QUYẾT TRẠCH PHẦN
TỪ A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ ĐẾN THÀNH DUY THỨC LUẬN

Phước Nguyên
******
 I. GIỚI THIỆU 
       
                      

blank
Trước tiên, ta có thể mở đầu cho sự giới thiệu này, bằng việc thi thiết hai câu hỏi:

1/Tu sở đoạn (bhāvanā-prahātavya) là gì?

2/Phi sở đoạn là gì?     

Sau kiến đạo, các pháp hữu lậu không thuộc kiến sở đoạn (darśana-prahātavya). Tức các pháp hữu lậu còn lại, trừ kiến chấp ô nhiễm khởi lên do tà phân biệt. Pháp hữu lậu ở đây gồm cả thiện tùy thuận quyết trạch phần (nirvedha-bhāgīya)[1]. Trong cái huân tập bởi nghe, những gì là tính hữu lậu thì thuộc tu sở đoạn, Nó chịu ảnh hưởng của dị thục đặc sắc để làm tăng thượng duyên cho chủng tử của tâm xuất thế. Như vậy được gọi là Tu sở đoạn (bhāvanā-prahātavya).

Còn Phi sở đoạn nghĩa là các pháp vô lậu, trừ thiện quyết trạch phần[2]. Những gì là tính vô lậu thì thuộc phi sở đoạn, làm nhân duyên trực tiếp cho pháp xuất thế. Nhân duyên trực tiếp này vi tế, ẩn mật, khó nhận thức được, nhưng dựa trên loại tăng thượng duyên đặc sắc thô hiển, phương tiện nói là chủng tử của tâm xuất thế.

Lưu chuyển (pravtti) là sự thọ sinh tái diễn. Hoàn diệt (nivtti) là sự thú hướng đến Niết-bàn[3]; Bốn hình thái lưu chuyển và một hình thái hoàn diệt của a-lại-da:

1. Sở duyên chuyển tướng, vin vào đối tượng nội giớichấp thọngoại giớikhí thế gian mà vận chuyển.

2. Tương ưng chuyển tướng, hằng tương ưng với năm biến hành.

3. Duyên tính chuyển tướng, vận chuyển theo điều kiện tương tác.

4. Câu chuyển chuyển tướng, tồn tại đồng thời với các chuyển thức và cùng vận chuyển. Một hình thái hoàn diệt: nó duy trì chủng tử thiện của thuận giải thoát phần và thuận quyết trạch phần[4].

Theo Thuật ký dẫn: Du-già 51 nói, hoàn tức Đạo đế; diệt tức Diệt đế[5].

Chúng ta nói đến Ba vô lậu căn: Năm giai vị, tức năm giai đoạn tu chứng. Thuật ký nói: thể tính tùy theo giai vị, nên nói là “thể vị.” Thể vị của căn vị tri đương tri có ba loại:

(1) Trong căn bản vị, tại kiến đạo, trừ sát-na tối hậu vì bấy giờ không còn cái gì chưa biết để sẽ biết. Kiến đạo có mười sát na; thể của căn này chỉ tồn tại trong mười lăm sát na đầu.

(2) Trong gia hành vị, tức bốn thiện căn noãn, đỉnh, nhẫn và thế đệ nhất; ở đây nó trực tiếp dẫn phát căn bản vị.

(3) Trong tư lương vị, từ chỗ chuẩn bị để đạt được hiện quán Thánh đế nên phát khởi quyết định thắng thiện pháp dục, tức là dục liên hệ pháp thiện thù thắng, cũng tức dục tâm muốn đạt đến thiện pháp thù thắng, phát tâm cầu Bồ-đề, Niết-bàn. Cho đến trước khi đạt được thuận quyết trạch phần; Thuận quyết trạch phần (nirvedha-bhāgiya), giai đoạn tu tập bốn thiên căn (noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất), quán sát mười sáu hành tướng của Thánh đế, trước khi vào kiến đạo các thiện căn trong khỏang đó gọi là tư lương vị, vì gián tiếp nó tư trợ phát sinh căn bản vị.

Năm giai vị để ngộ nhập duy thức là những gì? Đó là tư lương đạo, gia hành đạo, kiến đạo, tu đạo, cứu cánh đạo[6]Samuccaya[7]: mārga pañcavidha/ sabhāramārga prayoyamārga darśanamārga bhāvanāmārga niṣṭhāmārgaś ca//. Ở đây, chúng ta có thể nói theo Thành Duy Thức Luận, năm giai vị gồm :

 1. Tư lương vị, tu tập thuận giải thoát phần thuộc Đại thừa.

2. Gia hành vị, tu tập thuận quyết trạch phần thuộc Đại thừa.

3. Thông đạt vị, kiến đạoBồ tát an trụ.

4. Tu tập vị, tu đạoBồ tát an trụ.

5. Cứu cánh vị, an trú nơi Vô thượng Chính đẳng Bồ đề, v.v

Vì mục mục đích hướng đến Vô thượng chính đẳng bồ-đề mà tu tập nhiều tư lương khác nhau. Và vì các hữu tìnhcần cầu giải thoát, do đó giai đoạn này cũng được gọi là thuận giải thoát phần. Có ba loại thiện căn:

1. Thuận phước phần (puyabhāgīya), các loại thiện dẫn tái sinh chư thiênloài người.

2. Thuân giải thoát phần (mokabhāgīya), thiện căn quyết định dẫn đến giải thoát, chứng niết-bàn.

3. Thuận quyết trạch phần (nirvedhabhāgīya), bốn thiên căn dẫn đến hiện quán Thánh đế là noãn, đỉnh, nhẫn và thế đệ nhất[8].

Nơi khác, trình bày bốn loại thiện: thuận phước phần thiện, thuận giải thoát phần thiện, thuận quyết trạch phần thiên, và vô lậu thiện[9].

Bồ tát trước tiên ở trong vô số kiếp thứ nhất khéo léo hoàn bị các tư lương phước đứctrí tuệ, đã viên mãn thuận giải thoát phần, với mục đích nhập kiến đạo, an trụ trong duy thức tính, lại tu tập gia hành với noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất, gọi là Bốn gia hành hay bốn thiện căn thuộc quyết trạch phầnnirvedhabhāgīyāni kuśalamūlāni, ūmagata mūrdhnā satyānukūlakanti laukikakāgradharma[10]. Có tác dụng để trấn áp và đoạn trừ hai thủ.

                                           II. TỔNG LUẬN                                              

Bốn gia hành gọi chung là thuận quyết trạch phần, vì thuận dẫn hướng đến sự quyết trạch sự chân thật. Ta có thể tìm thấy định nghĩa của nó ở trong Thuận quyết trạch phần[11]– nirvedhabhāgīyānīti ko’rtha/ vidha vibhāge/ niścito vedho nirvedha āryamārgas tena vicikitsā prahāāt satyānām ca vibhajanād ida dukham aya yāvat mārga iti/ Nirvedhabhāgīya là gì? Vidha (sự xuyên thủng) nghĩa là vibhāga (sự chia chẻ). Nirvedha có nghĩa là sự xuyên thủng (= sự phân tích) chính xác, tức là Thánh đạo. Vì do sự xuyên thủng chính xác đó mà nghi bị đoạn trừ, và Thánh đế được phân tích rằng “Đây là khổ” cho đến “Đây là đạo”. Ý nghĩa thuận quyết trạch phần là gì? (1) Quyết là quyết đoán; trạch là giản trạch. Quyết đoán giản trạch tức Thánh đạo. Vì Thánh đạo đoạn trừ nghiphân biệt bốn Thánh đế. [12] Nhờ có thánh đạo, nghi (vicikitsā) mới được đoạn trừ vì thế thánh đạo là “quyết đoạn” (niścita), và các đế mới được phân biệt (vibhājana, vedha): “Đây chính là khổ… đây chính là đạo”; (2) Kiến đạo (darśanamārga) là một phần (bhāga) của thánh đạo; vì thế Kiến đạo cũng là quyết trạch phần. Quyết trạch phần được dùng với tiếp vĩ ngữ chan (thuận), là các pháp có ích (hita) cho một phần của thánh đạo bởi vì chúng dẫn dắt thánh đạo (āvāhaka). Tất cả bốn quyết trạch phần này đều sinh từ định (bhāvanāmayam, tu sở thành) chứ không phải văn hoặc tư (śruta, cintāmaya)[13].

Câu-xá cắt nghĩa, do gần với kiến đạo nên gọi là gia hành, từ sanskrit của nó là prayoga: sự thực hành, sự áp dụng; chứ không phải trong giai đoạn tư lương trước đó không hàm nghĩa gia hành. Bốn pháp, kể từ noãn, y bốn tầm tư, bốn như thật trí, theo giai đoạn đầu và cuối cuối mà lập. Trước tiên suy cầu về danh, về nghĩa, về tự tính, về sai biệt, rằng đấy chỉ là khái niệm giả định (prajñapti); sau đó biệt một cách như thực rằng sự chân thật như thế không thể nắm bắt. Trong lúc suy cầu, gọi là tầm tư. Khi biết như thực là bất khả đắc, bấy giờ gọi là bốn như thật trí. Tức sơ vị (bước đầu) gọi là tầm tư, hậu vị (kết quả) gọi như thật trí[14].

前順解脫分 速三生解脫

聞思成三業 殖在人三洲.

“Trước đó là thuận giải thoát phần.

Qua ba đời mới giải thoát

ba nghiệp do văn, tư tạo thành,

Được trồng ở ba châu của loài người.”

Theo ngài Thế-thân, trước tiên phải khởi giải thoát phần. Sự gieo hạt giống, sự tăng trưởng của cây và sự cho quả là ba giai đoạn khác nhau. Trong đạo cũng giống như thế, thân tương tục nhập đạo, trở nên thuần thụcđược giải thoát theo một tiến trình tiến lên từ từ: Trong đời sống thứ nhất là gieo trồng các thiện căn có tên giải thoát phần; trong đời sống thứ hai là sinh khởi các quyết trạch phần; và đời sống thứ ba là sinh khởi thánh đạo. Giải thoát phần được thành tựu từ văn và tư chứ không phải định (tu)[15].

Có ba loại nghiệp có thể làm giải thoát phần. Chúng ta có thể kể như sau :

1/Ý nghiệp là Chính yếu (prādhānyena);

2/Thân nghiệp;

3/Ngữ nghiệp;

Thân nghiệpngữ nghiệp cũng là giải thoát phần khi chúng được bao hàm (parigrahaāt) bởi quyết tâm (praidhāna) được giải thoát; quyết tâm này chính là một loại tư (cetanā): Khi có nguyện lực giải thoát hỗ trợ cho một thân nghiệp như bố thí, cho một ngữ nghiệp như trì giới, thì người ta đã phát khởi (ākipati) được một giải thoát phần. Theo Các nhà Phật học A Tỳ Đàm (Abhidharma) thì hành động của thân và ngữ hoàn toàn được chỉ đạo bởi Tư hay Ý chí (cetanā). Theo ngài Thế Thân (Vāsubandhu) ở trong Thành Nghiệp Luận (Sidhikarma) thì Tư hay Ý chí (cetanā) có ba loại: Thẩm lự tư, Quyết định tư và Phát động tư. Theo Budhaghoṣa, thì Hành lấy hoạt động làm tướng, lấy nỗ lực làm dụng, lấy ý chí làm động cơ và lấy vô minh làm duyên[16].

Chỉ có con người ở ba châu (dvīpas) mới có thể phát khởi hoặc trồng được các giải thoát phần. Thật như vậy, hết thảy các sự yểm ly (nirveda) hoặc trí tuệ (prajñāna), hoặc cả yếm lytrí tuệ đều xem như không có ở chư thiên, ở chúng sinh bị đọa và con người ở Bắc châu.

Trong gia hành đạo, trước tiên do sự tích tập tư lương đã được cực kỳ hoàn hảo, lại bằng thiện phương tiện mài luyện tâm, từ thiện căn biên tế thuộc thế gian thuận quyết trạch phần, một cách trực tiếp vô gián, phát sinh tâm thứ nhất có đối tượng sở duyênpháp giả danh về hữu tình vốn tự nội thân đã bị loại trừ; đoạn trừ các phiện não thô trọng bậc thấp thuộc loại kiến sở đoạn. Từ đó vô gián phát sinh tâm thứ hai có đối tượng sở duyênpháp giả danh về các pháp vồn tự nội thân dã bị loại trừ; đoạn trừ phiền não thô trọng bậc trung thuộc loại kiến sở đoạn. Từ đó vô gián phát sinh tâm thứ ba có đối tượng sở duyênpháp giả danh về hữu tình và các pháp vốn tự nội thân đã bị loại trừ; đoạn trừ tất cả phiền não thô trọng thuộc loại kiến sở đoạn. Hiện quán này chính là kiến đạo, cũng được gọi là song vận đạo (vận hành song song chỉ và quán). Trong đó tuy có ba phẩm thâm của tì-bát-xa-na (quán) và ba phẩm tâm của xa-ma-tha (chỉ), nhưng do song vận mà lập chỉ ba tâm, vì trong một tâm có thể vừa chỉ vừa quán. Nên biết, các tâm này chỉ duyên đến cảnh đối tượng là phi an lập đế. Hai tâm đầu tương ưng với pháp trí; tâm thứ ba tương ưng với loại trí. Chính do thế lực của tâm này, trong các an lập đế kể từ khổ phát sinh khổ trí v.v.. thuộc giai đoạn hiện quán thứ hai, thanh tịnh vô ngại. Nên biết, y chỉ trí này mà thành lập bốn trí khổ, tập, diệt, đạo. Tức ba tâm trước cùng với chỉ quán phẩm chứng đắc sự tịch diệt do diệt trừ phiền não thuộc kiến đọan, đạt đến xuất thế gian đạo, vĩnh viễn diệt trừ hết thảy phiền nãosở y sự. Đó là hiện quán trí đế hiện quán[17]. Như vậy gọi là Hiện quán trí đế biên hiện quán. Tức là trí vô phân biệt căn bản và hậu đắc, một cách triệt để, duyên phi an lập làm đối tượng.

Sau khi hành giả trụ ở pháp niệm trụ, quán chung bốn sở duyên. Tu các hành tướng vô thường, khổ, Không, vô ngã[18] thì bốn thiện căn sinh khởi. Kệ tụng trong Câu-xá, phẩm Phân biệt Hiền Thánh nói rõ:

“從此生煖法 具觀四聖諦

修十六行相 次生頂亦然

如是二善根 皆初法後四

次忍唯法念 下中品同頂

上唯觀欲苦 一行一剎那

世第一亦然 皆慧五除得”[19]

« Tu pháp quán này sẽ khởi sinh Noãn pháp, Quán đủ tứ thánh đế, Tu mười sáu hành tướng; Kế đó sẽ sinh khởi Đỉnh cũng như thế. Hai thiện căn trên đây lúc đầu đều nương vào pháp niệm trụ, và sau nương cả bốn loại. Kế đến là nhẫn, chỉ nương pháp niệm trụ; Hạ và trung phẩm giống như Đỉnh, thượng phẩm chỉ quán dục khổ. Một hành tướng một sát-na. Thế đệ nhất pháp cũng thế; Đều là tuệ, năm thủ uẩn, loại trừ đắc ».

Từ sự tu tập pháp niệm trụ nói trên, cuối cùng sẽ phát sinh (kramea) một thiện căn (kuśalamūla). Thiện căn được gọi là Noãn (umagata) vì nó tương tự như hơi nóng đạo (umaprakāra), là hiện tượng đầu tiên (pūrvanimitta, pūrvasvabhāva) của thánh đạo (āryamārga), là ngọn lửa đốt cháy củi phiền não (hoặc tân)[20]. Ta có thể nói khác là do y chỉ vào minh đắc định phát khởi hạ phần tầm tư quán không tồn tại sở thủ, lập làm trình độ noãn. Minh đắc đinh hay minh đắc tam-ma-địa 明得三摩地,  Phạn ngữ gọi là ālokalabdhaḥ samādhiḥ, chính định nhận được ánh sáng. Bằng bốn tầm tư, trong nhẫn bậc thấp đối với sự không tồn tại đối tượng (arthābhāva: vô nghĩa = vô cảnh), phát sinh chính định nhận được ánh sáng, đó là noãn tức hơi nóng, y chỉ của quyết trạch phần[21]. Ở trong trình độ này bắt đầu quán sát sở thủ là bốn pháp kể từ danh, rằng thảy đều là biến thái của tâm được khái niệm giả định như là thực hữu nhưng không thể bắt nắm. Đầu tiên có được măt trời tuệ đi trước, do hành tướng đó mà gọi là minh đắc. Tức đó là do là ngọn lửa của đạo mới nhận được làm dấu hiệu dẫn đường nên nói là noãn – Umagata katamat? pratyātma satyev ālokalabdha samādhi prajñā sayogaśca : noãn hay có hơi nóng là gì? Bằng nội thân chứng, định đạt được trong các chân đế, trí và tương ưng của nó[22]. Thí dụ như dùi lửa, hơi nóng là dấu hiệu đàu tiên của lửa. Dấu hiệu đầu tiên của chân trí cũng vậy[23]. Noãn thiện căn này có thể kéo dài trong một thời gian[24] nên có sở duyên là cả tứ thánh đế. Noãn thiện căn có đến mười sáu hành tướng. Quán khổ đế có bốn hành tướng là khổ (dukha), vô thường (anitya), không (śūnya), vô ngã (anātmaka); quán tập đế có bốn hành tướng là tập (samudaya), sinh (prabhava), nhân (hetu), duyên (pratyaya); quán diệt đế có bốn hành tướng là diệt (nirodha), tĩnh (śānta), diệu (praīta), ly (nisaraa); quán đạo đế có bốn hành tướng là đạo (mārga), như (nyāya), hành (pratipatti), xuất (nairyāika). Noãn pháp tăng trưởng dần từ yếu, đến khá, đến mạnh; và cuối cùng phát sinh thiện căn thứ hai là Đỉnh (mūrdhan).

Giống như Noãn, Đỉnh cũng duyên cả bốn thánh đế và có mười sáu hành tướng nhưng lại mang tên khác là vì tính chất thù thắng của nó, vì do y chỉ minh tăng định, phát khởi tầm từ bậc thượng, trong nhẫn bậc thượng về sự không tồn tại đối tượng, có minh tăng tam-ma-địa[25]mūrdhāna katamat? pratyātma satyev ālokavddha samādhi prajñā sayogaśca/[26] : Bằng nội thân chứng, ở trong các chân đế có định có ánh sáng lớn mạnh, có tuệ và tương ưng của nó. Quán sở thủ không tồn tại, lập làm trình độ đỉnh. Ở trong trình độ này, quán lặp lại về sở thủ là bốn pháp kể từ danh, rằng thảy đều là biến thái của tâm, được khái niệm giả định như là tồn tại, nhưng không thể bắt nắm. Minh tướng càng trở mãnh liệt hơn, do đó gọi là minh tăng. Trình đô tầm tư ở đỉnh cao, nên gọi là đỉnh. Thiện căn thứ hai này được gọi là “Đỉnh” hay “đầu” tại  vì đó là thiện căn cao nhất hoặc đứng đầu trong các thiện căn “không cố định”[27]; có nghĩa là người ta có thể bị rơi xuống từ các thiện căn này; hoặc người ta có thể bị rơi xuống lần nữa từ các “đỉnh” này, hoặc người ta có thể vượt qua chúng bằng cách tiến vào nhẫn (kānti). Chính nhờ có pháp niệm trụ mà hai thiện căn Noãn và Đỉnh mới có thể “in dấu” gọi là sơ an túc, in dấu tức là sự ngăn chặn đầu tiên các hành tướng khác nhau vào thánh đế. Noãn và Đỉnh tăng trưởng dần dần qua tứ niệm trụ[28].

Noãn và Đỉnh là loại không cố định (cala) và vì có thể bị thối thất cho nên chúng chỉ là loại thuận quyết trạch phần yếu ớt (mdu).

Đỉnh thiện căn cũng tăng trưởng dần từ yếu, đến khá, đến mạnh; và cuối cùng lại phát sinh thiện căn thứ ba là nhẫn (kānti). Luận Thành Duy Thức giải thích do y chỉ ấn thuận định, phát khởi hạ phần như thật trí, ghi dấu ấn một cách quyết định vào sự không sở thủ, và cũng có thuận lạc nhẫn,  trong sự không tồn tại năng thủ, thuật ngữ duy thức gọi là ấn trì, từ thường dùng để định nghĩa từ thắng giải[29]adhimoka katama/ niścite vastuni yathāniścaya dhāraā[30]: Thằng giải là gì? Đó là sự ghi nhận một cách xác quyết[31] ở trong những sự đã được xác định; Theo Thuật ký hạ phẩm nhẫn gọi là ấn nhẫn, vì ghi nhận (ấn) sở thủ không tồn tại. Trung phẩm nhẫn gọi là lạc thuận, vì vui trong sự không năng thủ, tùy thuậntu tập. Khi thượng nhẫn phát khởi, chỉ gọi là ấn thuận, vì ghi nhận năng thủ không tồn tại, thuận theo mà quán. Cảnh đã không thực sự tồn tại tách biệt ngoài thức năng thủ. Vì năng thủsở thủ tồn tại trong quan hệ đối đãi. Khi có ấn thuận nhẫn, gọi chung là nhẫn. Ấn trước, thuận sau đặt tên là ấn thuận. Nhẫn, ghi nhận cảnh và thức đều không do đó cũng gọi là nhẫn.  Ba trình độ nhẫn gồm: trước, không sở thủ, sau cùng không năng thủ, trung gian tùy thuận hướng đến không năng thủ. Trung gian chưa thể ấn nhưng tùy thuận nên cũng được gọi là nhẫn. Ấn thuận định 印順定 trong Thành Duy Thức luận mà chúng đề cập ở đây, từ này không tìm thấy nơi khác. Riêng từ ấn thuận có thể tìm thấy trong Đại Chánh[32]: “Thế nào là tà thắng giải? Tâm thắng giải, tân ấn thuân, tương ưng ưng với tác ý nhiễm ô.” Theo ngữ cảnh, ấn thuận đồng nghĩa với ấn trì 印持 – Thuật ký giải thích về ấn trì: thắng giải ghi giữ dấu ấn của sự thể trước đó còn

Bài viết liên quan

Duy Thức Học (Thích Thiện Hạnh )

PHẬT LỊCH 2561DUY THỨC HỌCBÁT THỨC QUY CỦ TỤNG & DUY THỨC TAM THẬP TỤNGTạo luận: Thế Thân (Vasubandhu) | Hoa dịch: Huyền TrangViệt dịch, giải: Tỷ kheo Thiện HạnhPHẬT HỌC VIỆN KIM QUANG-HUẾ MỤC LỤC Nội dung trang I. Vài nét đại cương về Duy thức học 1. Khởi nguyên 2. Duy thức 3. Tâm và […]

Xem thêm

Vô Trước (Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia)

VÔ TRƯỚCBách khoa toàn thư mở Wikipedia Đại luận sư Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (sa. śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (sa. paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một […]

Xem thêm

Vạn pháp qua cái nhìn của Duy Thức

. Vạn Pháp Qua Cái Nhìn Duy Thức

Xem thêm

Vấn Đề Thức

VẤN ĐỀ THỨCNguyên tác: The Question of ConsciousnessTác giả: Đức Đạt Lai Lạt MaChuyển ngữ: Tuệ Uyển   Niềm vui của việc gặp gở những người ta yêu, nổi buồn của việc mất mát người thân, sự phong phú của của những giấc mơ đầy sức sống, sự an bình của những bước chân qua […]

Xem thêm

Vấn Đáp Về Tâm Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: VẤN ĐÁP VỀ TÂM THỨCTác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Tuệ Uyển chuyển ngữ – 15/05/2011 HỎI: Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế […]

Xem thêm