Khảo Biện về Kinh Dược Sư

KHẢO BIỆN VỀ KINH DƯỢC SƯ
Chúc Phú

Kinh Dược SưTrong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an cho cá nhân, gia đình, dân tộc và xứ sở. Đặc biệt, trong những ngày đầu năm, đàn tràng Dược Sư được các chùa tổ chức với nhiều thể thức, quy mô khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung nhất giữa các đàn tràng đều lấy việc trì tụng bản kinh Dược Sư làm nền tảng.

Kinh Dược Sư có nhiều truyền bản và có lịch sử truyền dịch lâu đời. Đồng thời, nội dung bản kinh chứa đựng những yếu tố kỳ đặc, so với những quan điểm cơ bản của Phật giáo. Do vậy, việc khảo cứu về lịch sử bản kinh này cũng như biện giải những nội dung đặc thù được chuyên chở trong bản kinh, là điều quan tâm chính của khảo luận.

1. Truyền bản và niên đại

1.1 Vấn đề truyền bản

Theo Đại tạng kinh Đại chính tân tu, (ĐTKĐCTT), kinh Dược Sư hiện có bốn truyền bản:

–  Kinh Phật thuyết quán đảnh Bạt trừ quá tội sanh tử đắc độ (佛說灌頂拔除過罪生死得度經), là quyển thứ 12 thuộc bộ kinh Quán đảnh[01] do ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch vào thời Đông Tấn (317-420)[02].

–  Kinh Phật thuyết Dược Sư Như Lai bổn nguyện (佛說藥師如來本願經)[03], do ngài Đạt-ma-cấp-đa dịch vào niên hiệu Đại Nghiệp năm thứ 11 (615) đời nhà Tùy.

–  Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai bổn nguyện công đức (藥師琉璃光如來本願功德經)[04] do ngài Huyền Tráng dịch vào niên hiệu Vĩnh Huy nguyên niên (650)[05].

–  Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang thất Phật bổn nguyện công đức (藥師琉璃光七佛本願功德經)[06], do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào năm thứ ba niên hiệu Thần Long (707)[07].

Một số biên khảo cho rằng, có 5 bản dịch kinh Dược Sư[08]. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì chỉ có bốn bản dịch, vì căn cứ theo ngài Tăng Hựu trong Xuất Tam tạng ký tập, quyển năm, thì bản của Tỳ-kheo Tuệ Giản (慧簡) dịch vào niên hiệu Đại Minh nguyên niên (457), chính là sự sao chép và biên soạn từ bản của ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la[09]. Ngài Trí Thăng trong Khai Nguyên thích giáo lục, quyển 17 cũng khẳng định điều tương tự, và còn chỉ ra rằng, đây là sai lầm trong ghi chép của học giả phiên kinh Phí Trường Phòng[10]. Trong ĐTKĐCTT hiện chỉ còn bốn bản dịch nêu trên, cũng là cơ sở biện minh cho quan điểm đó.

Trong bốn bản dịch này, nội dung cơ bản đều giống nhau. Chỉ riêng bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh, thì ngoài nội dung tương tự như ba bản dịch nêu trên, còn thêm vào danh tựthệ nguyện của sáu vị Phật. Sáu vị Phật này đều ở phương Đông, cách thế giới Ta-bà từ bốn đến chín hằng-già-hà-sa cõi Phật, sáu vị Phật này đều phát những lời nguyện cứu độ chúng sanh tương tự như Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang.

Ngoài ra, theo Phật Quang đại từ điển[11], thì Phật giáo Tây Tạng cũng lưu hành hai bản dịch kinh Dược Sư. Bản thứ nhất mang tên: Bcom-ldam ḥdas sman-gyi blavaidūryaḥi hod-kyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa, tương đồng với bản dịch của ngài Huyền Tráng. Bản thứ hai mang tên: De-bshin-gśegs-pa bdun-gyi sṅon-gyi smon-lam-gyi khya -par rgyas-pa, tương đương bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh.

Trong kinh tạng tiếng Việt, hiện có nhiều bản dịch kinh Dược Sư được dịch từ bản Hán tạng của ngài Huyền Tráng, do các dịch giả uy tín như HT.Trí Quang, HT.Tuệ Nhuận, HT.Huyền Dung… phiên dịch.

1.2.  Vấn đề niên đại và cơ sở Phạn bản

Về niên đại

Nghiên cứu về vấn đề truyền bản, đã cho thấy rằng, kinh Dược Sư có niên đại xuất hiện rất sớm vào thời Đông Tấn, do ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch. Việc làm rõ niên đại của dịch giả cũng là một phương cách xác định niên đại xuất hiện bản kinh Dược Sư.

Khảo sát các bộ Tăng sử ở Hán tạng cho thấy, ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la đến Trung Hoa vào khoảng niên hiệu Vĩnh Gia (307-313)[12]. Theo Phật Tổ thống kỷ, quyển 36, vào niên hiệu Vĩnh Xương nguyên niên (322), thời Tấn Nguyên Đế, ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la đến Kiến Khang (建康). Lúc này, thừa tướng Vương Đạo (丞相王導, 276-339) cầu ngài làm Thầy và thường theo ngài học pháp. Ngài viên tịch vào niên hiệu Hàm Khang (咸康: 335-342), hưởng thọ hơn 80 tuổi.

Như vậy, theo niên biểu nêu trên, thì bản kinh Dược Sư đầu tiên do ngài Bạch-thi-lê-mật-đa-la dịch có niên đại vào khoảng đầu thế kỷ thứ tư.

Về cơ sở Phạn bản

Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp dịch thuật kinh điển tại Trung Hoa, do thiếu cơ sở tham chiếu nên đã có sự lầm lẫn trong khi phân loại kinh văn. Bản kinh Dược Sư nằm trong trường hợp như vậy. Theo Xuất Tam tạng ký tập, quyển bốn, ngài Tăng Hựu đã nêu ra nghi vấn về bản kinh này trong một ghi chú nhỏ[13].

Nghi vấn này sau đó được học giả phiên kinh Phí Trường Phòng sau khi tham cứu Phạn bản, đã cho rằng, quan điểm của ngài Tăng Hựu đã không đúng[14]. Cùng quan điểm này, ngài Trí Thăng trong Khai Nguyên thích giáo lục, quyển năm, cho rằng, ghi chú của ngài Tăng Hựu đã sai[15].

Trong công trình khảo cứu và sưu tập các cổ thư trên thế giới, nhà sưu tập Martin Schøyen, Na Uy đã phát hiện kinh Dược Sư bằng ngôn ngữ Sanskrit có niên đại vào thế kỷ thứ sáu. Nguồn gốc bản kinh này được lưu xuất từ một tu viện của học phái Mahāsāṃghika, nơi mà ngài Huyền Tráng đã từng ghé thăm vào thế kỷ thứ bảy ở Bamyan, Afghanistan[16].

Như vậy, kinh Dược Sư có cơ sở Phạn bản, ngay từ khi xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ tư, và hiện còn bằng chứng lịch sử từ bộ sưu khảo Martin Schoyen.

2. Khảo biện về nội dung

Trong kinh Tăng chi, chương Một pháp, phẩm Người tối thắng (A.i,23)[17], Đức Phật đã lần lượt nêu dẫn và giới thiệu nhiều vị đệ tử đặc thù với khả năng chuyên biệt, có thể kể đến như: tối thắng về hạnh đầu-đà là ngài Mahā Kassapa, tối thắng về hạnh nhận sự cúng dường là ngài Sīvali, tối thắng về thi kệ biện tài là ngài Vaṅgīsa, tối thắng về đa vănTôn giả Ānanda, tối thắng trong việc nhớ đến đời sống quá khứ là ngài Sobhita, tối thắng về việc săn sóc người bệnh là nữ cư sĩ Suppiyā…

Có thể nói, Đức Phật không ngăn cản chí nguyện đặc thù của từng vị đệ tử, miễn làm sao những chí nguyện đó hợp với đạo, chuyên chở tự lợi và hàm nghĩa lợi tha, thì được Đức Phật cho phép, trợ duyêntán thán.

Từ cơ sở này có thể hiểu được sở nguyện đặc thù của nhiều vị Phật, Bồ-tát, nhằm đáp ứng những sở cầu chuyên biệt của mọi loài, mà ở đây là thệ nguyện cứu chữa bệnh tật cho chúng sanh của Đức Phật Dược Sư, từ lúc còn ở giai vị Bồ-tát và mãi đến khi thành Phật.

Nội dung kinh Dược Sư đề cập đến nhiều chi tiết, trong khuôn khổ khảo cứu này, chúng tôi xin biện giải những nội dung cơ bản sau.

2.1. Thệ nguyệnsở cầu

Thệ nguyện ở đây là thệ nguyện cứu khổ, ban vui của Đức Phật Dược Sư được thể hiện trên nhiều phương diện như, cứu giúp chúng sanh bị đói rách, tật bệnh, thân hình xấu xa, bất tiện của nữ thân… và sở cầu của chúng sanh nhằm thoát khỏi tình cảnh đó. Đơn cử một trong những đại thệ nguyện đặc thù của Đức Phật Dược Sư:

Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ-đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khó, mà hễ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyền sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thường Bồ-đề[18].

Ở đây, cụm từ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần, (我之名號, 一經其耳) cần được hiểu đó chính là việc trì niệm danh hiệu Đức Phật Dược Sư, trong tai khi nào cũng nghe tên Đức Phật Dược Sư (經者, 道之常)[19].

Để hiểu tại sao việc niệm danh hiệu Đức Phật Sư có năng lực như thế, nên chăng đọc lại kinh Tăng chi, chương Một pháp, phẩm Một pháp (A.i,30) có thể làm sáng tỏ thêm về điều này:

Có một pháp, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật[20].

Một pháp rất đơn giản nhưng mở ra vô số diệu dụng, do vì lẽ đó nên pháp hành này có những yêu cầu rất cao. Một trong những yêu cầu cơ bản và quan trọng của pháp này là việc niệm Phật thường được tu tập (bhāvito), được làm cho sung mãn (bahulīkato). Sự an tịnh (upasamāya) của thân tâm sở dĩ có được là do hành trì pháp này đến mức chuyên nhất.

 Như vậy, việc niệm Phật chuyên nhất mở ra vô số diệu dụng, từ chữa lành bệnh tật, đầy đủ thức ăn… cho đến giác ngộ, Niết-bàn. Sở dĩ hành giả trì niệm danh hiệu của Đức Phật Dược Sư, nhưng chưa thực sự tu tập (bhāvito), chưa được sung mãn (bahulīkato), thế nên vẫn chưa nhận được kết quả như mong muốn.

Theo Vô tỷ pháp, thì thuật ngữ Bahulīkata còn mang nghĩa là định[21]. Định, Phạn ngữ gọi là Sammādhi, Trung Hoa phiên âm là Tam-muội. Do vậy, khi niệm Phật đến mức sung mãn (Bahulīkata) cũng chính là đạt tới niệm Phật Tam-muội. Theo luận Đại trí độ, quyển thứ bảy: Niệm Phật Tam-muội có thể diệt trừ vô lượng phiền não và các tội lỗi quá khứ… Niệm Phật Tam-muội có thể độ chúng sanh do phước đức lớn[22].

Trên một phương diện khác, cần phải thấy rằng, với lòng thương lớn, chư Phật bao giờ cũng quan tâm đến chúng sanh, và sự quan tâm càng gia tăng khi có những Đức Phật với lời nguyện đặc thù, chuyên gia hạnh vào những sở cầu cụ thể của chúng sanh như Đức Phật Dược Sư.

Có thể nói, mỗi vị Phật, Bồ-tát đều có những bản nguyện đặc thù. Khi thắng duyên hội đủ, sẽ tạo nên sự cơ cảm giữa bản nguyện của chư Phật và sở cầu chúng sanh. Trong thực tế, sự cơ cảm giữa bản nguyện của Đức Phậtsở cầu của chúng sanh hiện còn nhiều bằng chứng trong lịch sử kinh điển[23].

2.2.  Minh giải về hoạnh tử

Theo kinh Tương ưng (S.ii,2), chết là sự tàn lụi và chấm dứt của ngũ uẩn. Kinh ghi:

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Đây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là già, chết[24].

Theo luận giải của ngài Anuruddhācariya trong tác phẩm Abhidhammattha Saṅgaha: Cái chết sở dĩ diễn ra do bốn nguyên nhân: thọ diệt, nghiệp diệt, cả hai diệt và sát nghiệp (Āyukkhayena kammakkhayena ubhayakkhayena upacchedakakammunā ceti catudhā maraṇuppatti nāma)[25]. Sát nghiệp (upacchedakakamma) là trọng nghiệp cắt đứt mạng sống thình lình, là một cái chết phi thời (akālamaraṇa), và cũng có thể gọi là hoạnh tử.

Hoạnh tử là một cái chết không đúng thời. Trong kinh Tương ưng, hoàng thân Mahānāma nêu dẫn về những trường hợp chết không đúng thời do con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy[26].

Trong luận Tứ đế cũng nêu định nghĩa: Tự mình hoặc do người khác, dùng các phương tiện như thuốc độc, lửa thiêu, đao trượng… làm cho chấm dứt mạng căn, nên gọi là hoạnh tử[27].

Trong kinh Pháp cú thí dụ, Đức Phật dạy rằng: Trong đời sống nhân sanh, có ba loại chết oan uổng. 1, Có bệnh nhưng không được chữa trị nên bị chết oan uổng. 2, Tuy được chữa trị, nhưng không thận trọng nên bị chết oan uổng. 3, Do kiêu mạn, buông lung, tự tiện, không biết lẽ đúng sai nên bị chết oan uổng[28].

Kinh điển Hán tạng và Nikāya ghi nhận rất nhiều trường hợp hoạnh tử, như: Phật thuyết cửu hoạnh kinh, Ma-ha tăng-lỳ-luật, quyển 28, Du-già sư địa luận, quyển 31… Theo kinh Giới phân biệt[29], trong khi cùng trú tạm qua đêm ở lò gốm, thanh niên Pukusāti hạnh kiến Đức Phật, sau đó quy ngưỡng xin xuất giacầu thọ giới pháp. Trong khi đi tìm y bát để được truyền trao giới pháp, Pukusāti bị tử nạn do gặp phải một con bò cuồng chạy. Tuy nhiên, do vừa đoạn năm hạ phần kiết sử, thanh niên Pukusāti đã chứng quả Bất lai, không phải tái sinh lại cõi đời này nữa.

Như vậy, chín thứ hoạnh tử mà kinh Dược Sư miêu tả không những có cơ sở từ kinh điển, mà còn làm rõ thêm các phương cách đặc thù trong việc chấm dứt sự tồn tại của chúng sanh.

Trong thời đại ngày nay, khi đời sống luôn bị đoanh vây bởi dục vọngphiền não, thì càng có nhiều cái chết hoạnh tử xảy ra.

Xem ra, khát vọng được sống, sống đúng với thọ mạng mà không bị hoạnh tử, vẫn là một mong mỏi cháy bỏng từ ngàn xưa cho đến hôm nay, và cũng từ đây đã mở ra vấn đề kéo dài sự sống, hay còn gọi là diên mạng.

2.3.  Diên mạng và nhân quả

Trong thực tế đời sống, thọ mạng của mỗi người không đồng nhau và cái chết của mỗi người cũng diễn ra khác biệt do nghiệp lực sai khác nhau.

Diên mạng là phương cách kéo dài mạng sống nếu thọ mạng chưa hết. Diên mạng có thể được hiểu như là được cung cấp đúng mực và đầy đủ thức ăn, nước uống để tồn tại, được điều trị thuốc thang khi gặp phải bệnh tật, được sống trong môi trường an ninh và an toàn, được hội đủ điều kiện để chuyển hóa các trọng nghiệp của bản thân. Diên mạng vì vậy không trái với nhân quảtuân theo quy luật nhân quả. Vì lẽ, sự sống là sự kết hợp của nhiều yếu tố mà trong đó, diên mạng chỉ là một điều kiện trợ duyên, và là phương cách bổ sung, tăng cường những điều kiện cần thiết giúp bảo toàn sinh mạng.

Có thể thấy, đời sống của một chúng sanh có thể chấm dứt một cách đột ngột nếu như gặp phải một trọng nghiệp đến thời phải trổ quả. Nếu nhận ra sự thật này và dùng các biện pháp cần thiếtphù hợp thì đôi khi có thể kéo dài sinh mạng.

Trong kinh Phật thuyết cửu hoạnh, Phật dạy rằng, nếu như gặp phải voi say, ngựa chứng, bò điên, xe cộ, rắn độc, hầm hố, nước, lửa, chiến loạn, người say, kẻ xấu cũng như bao điều tệ ác khác (弊象,弊馬,牛犇,車,蛇虺,坑井,水火,拔刀,醉人,惡人, 亦餘若干惡)[30]… nếu bậc có trí tuệ thì sẽ biết và tránh các nhân duyên đó (慧人當識當避是因緣)[31] để bảo toàn tính mạng. Và đây cũng là một trong những phương cách cụ thể để diên mạng.

Mặt khác, tùy theo tính chất của nhân dẫn đến thời gian trổ quả nhanh hay chậm. Có những nhân gây ra kết quả quả tức thời và cũng có những nhân tạo ra kết quả ở thời gian lâu xa.

Câu chuyện Tỳ-kheo Kokālika trong kinh Tăng chi (A.v,170) là một bằng chứng nhân quả gần như tức thời, vì lẽ sau khi vừa mắng chửi Tôn giả Sāriputta và Moggallāna xong thì toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalāya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ[32].

Ở đây, dù nhanh hay chậm, thì yêu cầu cơ bản để khi đi từ nhân đến quả là phải có yếu tố thời gian. Tính chất khác thời mà chín (異時而熟)[33] luôn có mặt trong tiến trình nhân quả.

Chính vì vậy, khi đã lỡ gây nhân, nhưng nếu kịp thời ăn năn và vận dụng cách biện pháp phù hợp tùy theo nhân đã gây tạo, thì có thể góp phần thay đổi phần nào tính chất của kết quả. Tính chất tích cực trong lý thuyết nhân quả của Phật giáo thể hiện ở điểm này. Vì lẽ, nhờ tính chất bất định và có khả năng thay đổi đó, mà hàng phàm phu có cơ may tiến lên Thánh vị và kẻ hung ác có cơ hội quay đầu.

Có thể nói, diên mạng là những giải pháp nhằm kéo dài sự sống mang tính trợ duyên. Khi duyên thay đổi theo chiều hướng tích cực, thì quả có thể thay đổi. Do vậy, diên mạng nằm trong khuôn khổ và tuân theo quy luận nhân quả.

2.4.  Những phương cách diên mạng

–   Theo kinh Dược Sư

Theo kinh Dược Sư, những phương cách diên mạng chính là:

  1. Giữ tám phần trai giới
  2. Niệm danh hiệulễ bái Đức Phật Dược Sư.
  3. Thắp 49 ngọn đèn.
  4. Làm một lá phướn ngũ sắc.
  5. Cúng dường chư Tăng tứ sự
  6. Phóng sanh 49 loại.
  7. Khởi tâm từ bi.
  8. Ân xá kẻ tù tội,
  9. Rải các thứ hoa
  10.  Đốt các thứ hương thơm cúng dường.

Có hai chi tiết đáng lưu ý về những giải pháp diên mạng được nêu dẫn trong kinh Dược Sư cần được minh giải. Thứ nhất là danh từ “Thần phan tục mạng”. Thứ hai là con số 49.

Về thần phan tục mạng, cần phải hiểu rằng, việc cúng dường phan có khả năng tăng trưởng thọ mạng, nên thường gọi tắt là thần phan tục mạng.

Theo nghĩa ban đầu từ kinh điển, tràng phan là một lá cờ biểu trưng cho Đức Phật hay trí tuệ của Đức Phật, tùy theo hình dạng mà được phân ra là tràng, hay phan.

Theo kinh Tương ưng, kinh Đầu lá cờ (Dhajaggam, S.i,218)[34] khi có sự hiện hữu lá cờ của Đức Phật, bản kinh Hán tạng tương đương gọi là lá cờ cao rộng (高廣之幢)[35]. Là ngọn cờ biểu trưng cho trí tuệ (智慧高幢)[36],  hay lá cờ của những vị Thiên tướng, thì sẽ không còn sợ hãi, đem lại an ổn cho chúng sanh.

Như vậy, trong nghĩa thứ nhất, an ổnan toàn là một trong những nghĩa cụ thể của diên mạng, và sở dĩ có được là do sự hiện diện của lá cờ mang tính biểu trưng cho Đức Phật. Có thể tìm thấy nghĩa biến thể tương đương về lá cờ này trong thư tịch Hán tạng, gọi là Trục ma thần phan (逐魔神幡)[37]. Trong nghĩa thứ hai, thần phan ở đây chính là ngọn cờ trí tuệ, ngọn cờ chánh pháp, khi nêu cao ngọn cờ chánh pháp, tức quảng diễn nghĩakinh điển, cũng là một phương cách để diên mạng có cơ sở kinh điển.

Về con số 49. Trong không gian văn hóa Ấn Độ, số 7 là con số thành, là con số thiêng trong văn hóa Hindu, biểu trưng cho sự mỹ mãn (Saptaसप्त)[38]. Bảy lần bảy là 49, là tích số biểu trưng cho mọi sự tròn đầy.

Khi dùng con số này để minh họa về mức độ, số lượng… hàm nghĩa rằng, mức độ tối ưu và số lượng hợp lý trong khả năng có thể. Cụ thể là, theo kinh Dược Sư, khi làm phan dài 49 gang tay, mang ý nghĩa là dài trong khuôn khổ hợp lý nhất của đàn tràng. Phóng sanh 49 loài vật khác nhau, tức là phóng sanh với khả năng có thể, với các giống loài có thể. Cần phải phân biệt

Bài viết liên quan

Kinh Đại Bát Niết Bàn

Kinh Đại Bát Niết Bàn Lời Giới Thiệu Giới Thiệu Bản Dịch Kinh 1. Phẩm Thọ Mạng 2. Phẩm Thân Kim Cang 3. Phẩm Công Đức Danh Tự 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 1-4 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 5-7 5. Phẩm Đại Chúng Thưa Hỏi 6. Phẩm Thị Hiện Bệnh 7. Phẩm Thánh Hạnh 8. Phẩm Hạnh Thanh Tịnh 9. Phẩm Hạnh Anh Nhi 10. Phẩm Bồ Tát Quang Minh 11. Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống 12. Phẩm Bồ Tát Ca Diếp 13. Kiều-trần-như Hậu Phần Kinh Đại Bát Niết-bàn Phụ Lục     KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến  

Xem thêm

Kinh Đại Báo Tích

Kinh Đại Báo Tích Lời Nói Đầu Của Dịch Gỉa 01. Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi 02. Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm 03. Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ 04. Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử 05. Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai 06. Pháp Hội Bất Động Như Lai 07. Pháp Hội Mặc Giáp Trang Nghiêm 08. Pháp Hội Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt 09. Pháp Hội Đại Thừa Thập Pháp 10. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn 11. Pháp Hội Xuất Hiện Quang Minh 12. Pháp Hội Bồ Tát Tạng 12.01. Phẩm Khai Hoá Trưởng Giả Thứ Nhất 12.02. Phảm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký Thứ Hai 12.03. Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát Thứ Ba 12.04. Phẩm Như Lai Bất Tư Nghì Tánh Thứ Tư 12.05. Phẩm Tứ Vô Lượng Thứ Năm 12.06. Phẩm Đàn Na Ba La Mật Đa Thứ Sáu 12.07. Phẩm Thi La Ba La Mật Thứ Bẩy 12.08. Phẩm Sằn Đề Ba La Mật Thứ Tám 12.09. Phẩm Tỳ Lê Gia Ba La Mật Thứ Chín 12.10. Phẩm Tĩnh Lự Ba La Mật Thứ Mười 12.11. Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Thứ Mười Một 12.12. Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký Thứ Mười Hai 13. Pháp Hội Phật Thuyết Nhơn Xử Thái 14. Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng 15. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký 16. Pháp Hội Bồ Tát Kiến Thiệt 16.01. Phẩm Tự 16.02. Phẩm Tịnh Phạn Vương Đến Phật 16.03. Phẩm A Tu La Vương Thọ Ký 16-04 Phẩm Bổn Sự 16-05 Phẩm Ca Lâu La Vương Thọ Ký 16-06 Phẩm Long Nữ Thọ Ký 16-07 Phẩm Long Vương Thọ Ký 16-08 Phẩm Cưu Bàn Trà Thọ Ký 16-09 Phẩm Càn Thát Bà Thọ Ký 16-10 Phẩm Dạ Xoa Thọ Ký 16-11 Phẩm Khẩn Na La Vương Thọ Ký 16-12 Phẩm Hư Không Hành Thiên Thọ Ký 16-13 Phẩm Tứ Thiên Vương Thọ Ký 16-14 Phẩm Tam Thập Tam Thiên Thọ Ký 16-15 Phẩm Dạ Ma Thiên Thọ Ký 16-16 Phẩm Đâu Xuất Đà Thiên Thọ Ký 16-17 Phẩm Hoá Lạc Thiên Thọ Ký 16-18 Phẩm Tha Hoá Tự Tại Thiên Thọ Ký 16-19 Phẩm Chư Phạm Thiên Thọ Ký 16-20 Phẩm Quang Âm Thiên Thọ Ký 16-21 Phẩm Biến Tịnh Thiên Thọ Ký 16-22 Phẩm Quảng Quả Thiên Thọ Ký 16-23 Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Tán Kệ 16-24 Phẩm Giá La Ca Ba Lợi Bà La Xà Ca Ngoại Đạo 16-25 Phẩm Lục Giới Sai Biệt […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Pháp Luân

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂNBản gốc: bản khắc gỗ Càn LongTam Tạng An Thế Cao đời Hậu Hán An Tức dịch.   Nam mô Bổn Sư Thích Mâu Ni Phật, Nhân dịp kỷ niệm ngày Phật thành đạo ( Phật lịch 2561 – 2017), Phật tử Hoàng Phước Đại, Pháp danh Đồng An, xin gửi đến […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

KINH CHUYỂN HÓA BẠO ĐỘNG VÀ SỢ HÃI(Duy Lâu Lạc Vương Kinh)Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198tương đương với Attadanda Sutta, Sutta-Nipàta 935-9544   Bối Cảnh Đây là kinh Duy Lâu Lặc Vương. Duy Lâu Lặc Vương là tên của vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka), người kế vị vua Ba […]

Xem thêm

Kinh Chánh Kiến

LỜI BAN BIÊN TẬP: Trong các thuật ngữ Phật Giáo, có lẽ không có thuật ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế" hay còn gọi “Chân […]

Xem thêm