Kinh Atthaka Vagga Chương Bốn – Phẩm 8 kinh Tập – Sutta Nipata -The Octet Chapter

KINH ATTHAKA VAGGA
Chương Bốn – Phẩm 8 |Kinh Tập – Sutta Nipata
The Octet Chapter

 

mot-ban-kinh-gandhara-co-tuoi-gan-2000-nam

Một bản kinh gandhara có tuổi gần 2000 năm

Trong bài viết Đọc Tạng Pali: Đừng Trụ Bất Kỳ Pháp Nào cư sĩ Nguyên Giác có đề cập đến các bản kinh xuất hiện trong thời kỳ đầu của đạo Phật “Early Buddhism” tức là, những bản kinh được suy đoán là trong những năm đầu tiên thuyết pháp của Đức Phật, hay còn được gọi là những bản kinh cổ.

Kinh “The Parayana Vagga” và kinh “Aṭṭhaka vagga” là hai bản kinh đều có mặt trong “Kinh Tập – Sutta Nipāta thuộc Tiểu Bộ Kinh.

Kinh “The Parayana Vagga” tiếng Anh có tựa đề là The Chapter on the Way to the Far Shore”, tiếng Việt là “Phẩm Con đường Đến Bờ Bên Kia”  Kinh này đã được cư sĩ Nguyên Giác giải thích chi tiết trong bài viết nói ở trên.

Trong bài này chúng tôi đề cập đến nhóm kinh thứ hai “Aṭṭhaka Vagga” tức chương 4 Phẩm 8 trong Tập Kinh do HT. Thích Minh Châu dịch. Tiếng Anh là The Octet Chapter, dịch bởi Thanissaro Bhikkhu, bao gồm mười sáu bài kệ về chủ đề của sự không dính mắc. Các bài kệ này xoay quanh bốn loại dính mắc – dính mắc vào cảm xúc, nhìn, thực hành, giới luật, và giáo lý của tự ngã – với sự nhấn mạnh đặc biệt vào hai loại đầu tiên.

Kinh mô tả những gì tạo nên bản chất của sự dính mắc vào từng trường hợp cụ thể, những hạn chế của sự dính mắc, lợi ích của việc từ bỏ dính mắc, phương cách từ bỏ dính mắc, và những nghịch lý tinh tế của những gì nó không có nghĩa dính mắc.

Lời dạy trong kinh Aṭṭhaka Vagga đề cập tới một tăng đoàn sống không gia cư, tu pháp hành nhiều năm và chú trọng thực hành hơn là những đề tài triết lý. Văn kinh giản dị, và sâu sắc lại dễ hành.

Trong tạng Hán có một bản kinh được xem là tương đương với Aṭṭhaka Vagga, là kinh Arthapada, số 198 Đại Tạng Taisho. Thầy Thích Nhất Hạnh đã dịch và chú giải với tựa “Kinh Nghĩa Túc”

Trước hết chúng tôi giới thiệu nguyên bản tiếng Anh dạng PDF và bản dịch phần phụ đính số 1 của bản tiếng Anh bởi dịch giả Kan. Sau nữa là bản dịch của HT. Thích Minh Châu và bản dịch của thầy Thích Nhất Hạnh.

Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen

Bản tiếng Anh PDF
Pannobhasa-Bhikkhu_Atthakavagga

Aṭṭhaka Vagga (Sn 4)
Tiếng Anh: The Octet Chapter Tiếng Việt Phẩm Tám

Phụ Lục I
Một số dấu vết chứng tỏ tính cổ xưa của kinh Aṭṭhaka Vagga

 

1. Ngôn ngữ dùng trong Aṭṭhaka vagga chứa một số dạng ngữ pháp làm gợi nhớ tới ngôn ngữ Vedic Sanskrit cổ; những dạng này không thấy trong toàn bộ phần kinh điển còn lại.

2. Aṭṭhaka vagga được nhắc tới ở vài chỗ khác, chẳng hạn trong Udāna 5.6 (4) thuộc tạng kinh, hay trong Đại Phẩm 5.13 (5) thuộc tạng luật. (6) Cả hai chỗ này đều nhắc tới vị tỳ-kheo trẻ tên Soṇa Kuṭikaṇṇa đã tụng lại Aṭṭhaka vagga khi được Đức Phật đề nghị trình bày về pháp. Đoạn Kinh trong Udāna 5.6 còn nêu ra chính xác rằng Aṭṭhaka vagga có 16 phần. Như vậy, Aṭṭhaka vagga phải có trước hai bản kia.

3. Aṭṭhaka vagga là một trong số rất ít phẩm kinh thuộc tạng Pali có bản chú giải cũng thuộc tam tạng, bản chú giải của nó là Mahāniddesa thuộc Tiểu Bộ. (Điều thú vị là dường như mục đích của Mahāniddesa không phải là để bàn chi tiết hơn tính sâu sắc tuyệt diệu của Aṭṭhaka vagga, mà nó chỉ làm giảm giá trị của Aṭṭhaka vagga hơn là tán dương. Hơn nữa, Mahāniddesa được soạn ra dường như không phải để chú giải một bản kinh cổ danh tiếng, bởi tại thời điểm nó được biên soạn thì nhiều bài kinh được xem là cổ hơn Aṭṭhakavagga mà còn không có chú giải nằm trong tam tạng. Mục đích của Mahāniddesa có lẽ là diễn giải lại một phần không nhỏ giáo thuyết của Theravada thời kỳ đầu (7) hay thậm chí là tiền Theravada (8). Phần giáo thuyết này rõ ràng không tương thích với những giáo thuyết phát triển về sau, nhưng chưa bao giờ chúng quá nổi bật để bị loại bỏ khỏi tam tạng.)

4. Dựa trên dấu vết văn bản thì Aṭṭhakavagga (nhưng không phải là toàn bộ Kinh Tập Sutta-nipāta) vốn phổ biến trong nhiều bộ phái, thậm chí có thể phổ biến trong hầu hết hay toàn bộ các bộ phái Phật giáo, kể cả Đại Chúng Bộ vốn được biết tới như một trong hai bộ phái sinh ra từ lần phân phái đầu tiên. Câu chuyện về vị tỳ-kheo Soṇa Kuṭikaṇṇa tụng đọc cũng có mặt trong tạng luật của Đại Chúng Bộ, cũng như trong tạng luật của nhiều bộ phái khác còn lưu lại trong tạng Hán.

5. Văn bản Aṭṭhaka vagga không chứa một đoạn kinh mẫu nào (9), không có một dạng hệ thống hóa giáo thuyết nào cả. Ngoại trừ đoạn mở đầu trong hai kinh Māgandiya Sutta và Sāriputta Sutta thì không có yếu tố thần thông, vốn là một đặc tính của những văn bản hậu kỳ.

6. Những lời dạy trong Aṭṭhaka vagga nói tới một tăng đoàn sống không nhà, lời kinh dù giản dị nhưng vẫn rất sâu sắc. Kinh này dường như xuất hiện trong thời kỳ đầu của đạo Phật, khi những vị tăng hầu hết là có thâm niên tu hành và chú trọng thực hành hơn là những đề tài triết lý. Hình ảnh những vị tăng yên vị tại tu viện tiện nghi để cống hiến toàn lực cho việc khảo sát Dhamma theo lối học thuật (10), vốn là hình ảnh quen thuộc từ rất lâu trong lịch sử đạo Phật, hoàn toàn xa lạ với tinh thần của bản kinh này. (hết phần trích dịch – Kan)

Các bản dịch

Aṭṭhaka vagga (Sn 4) Tiếng Anh: The Octet Chapter
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/index.html 
Tiếng Việt: Phẩm Tám
http://thuvienhoasen.org/p15a1547/2/chuong-04-pham-tam

 

APPENDIX I

Some evidence suggesting the great antiquity of the Aṭṭhaka vagga

1. The language of the Aṭṭhaka vagga contains several rare and archaic grammatical forms reminiscent of Vedic Sanskrit which are absent in the more streamlined grammar of most of the rest of the Canon.

2. The Aṭṭhaka vagga is referred to by name elsewhere in the Tipiṭaka at, for example, Udāna 5:6 in the Suttanta Piṭaka and Mahāvagga 5:13 in the Vinaya Piṭaka. Both of these passages tell the story of a young bhikkhu named Soṇa Kuṭikaṇṇa who, when requested by the Buddha to speak sore Dhamma, recites the Aṭṭhaka vagga. The passage in the Udāna also (correctly) specifies that the Aṭṭhaka vagga has sixteen parts. Thus it was already compiled and named before the completion of the works in which the story is found.

3. The Aṭṭhaka vagga is one of the very few portions of the Pali Canon with a line-by-line commentary that is also canonical—namely, the Mahāniddesa. (Interestingly, the purpose of the Mahāniddesa is apparently not to expound upon the great profundity of the Aṭṭhaka vagga, as it does more to trivialize than glorify it. Furthermore, the Mahāniddesa was probably not composed merely to comment upon a notably ancient text, as at the time of its composition many suttas were believed to predate the Aṭṭhaka vagga—yet they are without a canonical commentary. Its most likely purpose seems to be to reinterpret—to explain away—a large body of proto-Theravadin or even pre-Theravadin philosophy that was clearly at odds with later doctrinal development but was nevertheless too well known to be deleted from the Canon.)

4. According to the literary evidence the Aṭṭhaka vagga (but not the Suttanipāta as a whole) was common to many, probably most, and possibly all of the ancient schools of Buddhism, including the Mahasanghikas, who are historically the first to branch off from the proto-Theravada/ Sarvastivada line (being equivalent to the Vajjiputtas in the Pali account of the second council). The story of ven. Soṇa Kuṭikaṇṇa’s recitation of the Aṭṭhakavagga is also recorded in the Mahasanghika Vinaya, as well as in the vinayas of other ancient schools preserved in the immense Mahayana Tripiṭaka.

5. The text of the Aṭṭhakavagga contains none of the usual stock passages, little if any technical systematization of doctrine, and, with the possible exceptions of the introductory verses to the Māgandiya Sutta and Sāriputta Sutta, no fairy-tail narratives—all of which are characteristic of later material.

6. The teachings of the Aṭṭhakavagga are addressed to a Sangha of homeless, wandering ascetics, and are very simple (often to the point of being enigmatic) yet also exceedingly profound. They appear to come from a time when the Sāsana was still in a primitive state, most of its converts being veterans to the holy life, and being far more inclined to practically realize than to theoretically philosophize. The existence of sedentary bhikkhus living in prosperous monasteries and dedicating their efforts to intellectual investigation of Dhamma, which became the norm very early in the history of Buddhism, is clearly at variance with the spirit of these teachings.

 

KINH TIỂU BỘ TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt – Phật Lịch 2543 – 1999
Kinh Tập (Sutta Nipata)
Chương Bốn – Phẩm Tám – Atthaka vagga| The Octet Chapter

 

ĐẠO BỤT NGUYÊN CHẤT – KINH NGHĨA TÚC
Kinh Nghĩa Túc trong tạng Hán do cư sĩ Chi Khiêm dịch.
Thích Nhất Hạnh dịch ra quốc văn và giảng giải.
Đạo Tràng Mai Thôn 2011

 

HT. Thích Minh Châu dịch

HT. Thích Nhất Hạnh dịch

Sn 4.1: Kama Sutta — Sensual Pleasure.[766-771] Kinh về dục.

766. Ai ao ước được dục,
Nếu dục được thành tựu,
Chắc tâm ý hoan hỷ,
Được điều con người muốn.

767. Nếu người có dục ấy,
Ước muốn được sanh khởi,
Các dục ấy bị diệt,
Bị khổ như tên đâm.

768. Ai tránh né các dục
Như chân tránh đầu rắn,
Chánh niệm vượt thoát được,
Ái triền này ở đời.

769. Người nào tham đắm dục,
Ruộng đất, vàng, bò, ngựa,
Người nô tỳ, phục vụ,
Nữ nhânbà con.

770. Như người không sức lực,
Bị các dục chinh phục,
Tai họa dẫm đạp nó,
Khổ đau bước theo nó,
Như nước ùa tràn vào,
Chiếc thuyền bị vỡ nát.

771. Do vậy người thường niệm,
Từ bỏ các loài dục,
Bỏ dục, vượt bộc lưu,
Tát thuyền đến bờ kia.

Kinh Nhiếp Phục Tham Dục – Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ nhất, Đại Tạng Tân Tu 19 tương đương với Kàma Sutta, Sutta-Nipàta 766-771

1. Tâm còn đeo đuổi ham muốn thì dù có đạt tới cái đối tượng ham muốn rồi, mình vẫn càng ngày càng muốn có thêm nữa, vẫn chưa được hài lòng.
2. Chạy theo dục lạc trong cuộc đời, là kẻ đang bị vướng vào tham đắm và si mê. Còn mang dục ý trong lòng thì cũng như một người đang bị trúng tên độc.
3. Nên tránh tham dục như tránh dẫm lên đầu một con rắn độc. Phải thực tập thiền quán mới buông bỏ được những gì mà người đời thường ham muốn.
4. Vướng vào sự tham cầu châu báu, ruộng đất, hạt giống, trâu bò, tôi tớ và thê thiếp, kẻ ngu si làm tiêu hao cuộc đời và thân thểmình.
5. Đang khỏe mạnh cường tráng, người chạy theo dục lạc trở nên gầy gò hư hao, lại gây thêm nhiều oán hận. Trong u mê, người ấy phải gánh chịu nhiều đau nhức, giống như kẻ đang đi trên biển mà thuyền bị vỡ.
6. Vì vậy ta phải biết nhiếp phục tâm ý, xa lìa tham dục, đừng vướng vào chúng, tinh tiến đi tới, một lòng mong cầu đưa chiếc thuyền của mình đi sang tới bờ bên kia.
Đại Ý
Kinh tuy chỉ có sáu bài kệ, nhưng rất hay và rất đầy đủ. Đối tượng của tham dục là giàu sangquyền lựcdanh vọng và sắc dụcChạy theo những đối tượng ấy ta có thể làm cho thân và tâm bệ rạc. Có ba hình ảnh tuyệt đẹp trong kinh này: Mang dục ý trong lòng thì cũng như một người đang trúng tên độc, không thể nào có an lạc. Phải tránh tham dục như tránh dẫm lên đầu một con rắn độc, bởi tham dục rất nguy hiểm. U mê vì tham dục phải gánh chịu nhiều đau nhức, như người đi trên biển cả bị vỡ thuyền. Kinh dạy phải thực tập thiền quán mới buông bỏ tham dục được một cách dễ dàng. Kinh cũng đưa ra ý niệm “bờ bên kia” tức là bờ giải thoát, bờ tự do.

Sn 4.2: Guhatthaka Sutta — The Cave of the Body. [772-779] Kinh hang động ái dục

772. Chúng sanh vào trong hang, 
Chấp chặt bị bao trùm, 
Người có thái độ vậy, 
Chìm sâu trong si mê
Hạnh viễn ly với nó, 
Như vậy thật xa vời, 
Các dục ở trong đời
Không dễ gì đoạn tận.

773. Dục cầu làm nhân duyên
Bị lạc hữu trói buộc
Họ rất khó giải thoát
Không thể có người khác, 
Đến giải thoát cho mình, 
Họ cầu việc đã qua, 
Họ mong việc chưa lại; 
Họ tham đắm các dục, 
Những dục này hiện tại
Và những dục quá khứ.

774. Ai tham đắm các dục, 
Bị trí buộc si mê
Họ xan tham keo kiết. 
An trú trên bất chánh
Khi rơi vào đau khổ
Họ sầu muộn than khóc, 
Ở đây sau khi chết
Tương lai sẽ thế nào?

775. Do vậy ở tại đây, 
Con người cần học tập, 
Những gì mình biết được, 
Là bất chánh ở đời. 
Do nhân duyên như vậy, 
Mà sống không bất chánh
Vì rằng bậc Thánh nói: 
Ngắn thay, sanh mạng này.

776. Ta thấy ở trên đời, 
Loài Người run, sợ hãi
Đi đến khát ái này, 
Trong những loại sanh hữu
Phàm những người thấp kém
Than van trước miệng chết, 
Chưa viễn ly khát ái
Đối với hữu, phi hữu.

777. Hãy nhìn những người ấy, 
Run sợ trong tự ngã, 
Như cá chỗ ít nước, 
Trong dòng sông khô cạn, 
Thấy được sự kiện này, 
Hãy sống không của ta, 
Không làm sự việc gì, 
Khiến tham đắm các hữu.

778. Hãy nhiếp phục ước muốn, 
Đối với hai cực đoan
Nhờ liễu tri các xúc, 
Không còn có tham đắm, 
Cái gì tự ngã trách, 
Cái ấy không có làm, 
Bậc trí không bị nhớp, 
Bởi những gì thấy nghe.

779. Do liễu tri các tưởng, 
Vượt qua khỏi bộc lưu
Bậc Mâu-ni không nhiễm, 
Đối với mọi chấp thủ
Với mũi tên rút ra, 
Sở hành không phóng dật
Không cầu mong đời này, 
Không mong ước đời sau.

 

 

Kinh Hang Động Ái Dục-Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ nhì, Đại Tạng Tân Tu 198 tương đương với Guhatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 772-779

1. Bị nhốt vào cái hang động của đủ thứ ham muốn, bị tri giác sai lầm của mình che lấp, người ta đi tách ra khỏi con đường chánh đạo. Cái nhớ tưởng về dục vọng của mình làm cho mình khó có cơ hội thành tựu được tuệ giác.

2. Vướng vào vòng sắc dục là vướng vào vòng sinh tử. Một khi sợi dây sắc dục đã cột vào kiên cố quá thì khó có thể tháo gỡ ra. Nếu không biết quán chiếu cái tới và cái đi của các pháp, nếu không thành tựu được tuệ giác thì không thể nào chặt đứt được gốc rễ của tham dục.

3. Tham dục được phát sinh từ mù quáng và si mê. Người ta không biết rằng chạy theo tham dục thì cái mê lầm của mình càng ngày càng lớn, rằng sống trong tham dụcthì phải gánh chịu nhiều thống khổ và bi ai, và trong khi chịu đựng, người ta chẳng biết phải nương tựa vào đâu cho bớt khổ.

4. Con người phải thức tỉnh và trở về với giây phút hiện tại. Phải thấy rằng thế gianđang sống trong mê lầm, ta không thể nương tựa vào cấu trúc của thế gian và đi theocái đà của nó. Phải quán niệm về buông bỏ, về sự trở về với con đường chính, về sự thoát ly vướng mắc. Phải nhớ mạng sống là ngắn ngủi và quán chiếu cái chết gần kề.

5. Cuộc đời đi từ khổ đau này đến khổ đau khác, cái ham muốn trong cõi sinh tử đang lan tràn như một cơn lũ lụt. Khi cái chết đến, oán thù và sợ hãi phát sinh, và năng lượng của cái dục ấy sẽ kéo ta đi luân hồi.

6. Người đang nhận chịu khổ đau cảm thấy mình như một con cá thiếu nước, dòng nước chảy vào hồ đã bị cắt đứt. Thấy như thế là có thể dừng lại được và sẽ không còn có khuynh hướng muốn đi về trong ba cõi.

7. Đừng bị kẹt vào một trong hai cực đoan. Những gì mà ta tiếp xúc nếu biết là chúng có tính cách nguy hại thì ta phải quyết tâm buông bỏ, đừng vướng víu. Đừng làm một điều gì để sau này ta sẽ oán trách chính ta. Phải biết từ khước nhìn và nghe những gì có thể làm cho tự thân ta ô nhiễm.

8. Phải sử dụng những giáo pháp của đạo giác ngộ để quán chiếu và vượt qua biển khổ. Vị mâu ni buông bỏ những lo toan, trau chuốt cho cái ngã và tu tập tinh chuyên để nhổ cho được mũi tên tham dục ra khỏi thân mình. Làm như thế vị ấy đạt được tới chỗ không còn nghi nan.

Đại Ý

Kinh Hang Động Ái Dục tiếp nối chủ đề mà kinh thứ nhất đưa ra. Kinh này cũng chỉ có tám bài kệ. Bị nhốt vào hang động ngũ dụccon người không tìm ra được con đườngchánh đạo thênh thangHam muốn là hang động giam hãm con người và cũng là những sợi giây trói buộc làm cho con người mất hết tự do. Nguồn gốc của tham dục là si mê, chỉ có quán chiếu mới buông bỏ được. Ham muốn là gốc của luân hồi sinh tử. Có ba hình ảnh rất sống động trong kinh này: đó là hình ảnh của một cơn lũ lụt, tượng trưng cho tham dục, kéo ta đi; hình ảnh của một con cá thiếu nước, tượng trưng cho khổ đau và hệ lụy; và hình ảnh của một mũi tên cắm vào thân thểtượng trưng cho tham dục.

Một trong những phương pháp thực tập là tránh nhìn và nghe những gì có thể tưới tẩm hạt giống tham dục trong ta. Phương pháp khác là quán chiếu cái tới và cái đi của các pháp. Phương pháp thứ ba là thực tập con đường trung đạo, đừng bị kẹt vào một trong hai cực đoan: hoặc kham khổ quá, hoặc hưởng thụ nhiều. Trong bài kệ thứ tám, có một chữ chép sai. Đó là chữ tiêm (尖) có nghĩa là mũi nhọn, chép nhầm thành chữ vị (未), làm cho câu kinh mất nghĩa. Hai chữ viết na ná như nhau cho nên có sự nhầm lẫn.

 

Sn 4.3: Dutthatthaka Sutta — Corrupted  Kinh Sân Hận tám kệ (Sn 153) [780-787]

780. Thật có một số người 
Nói lên với ác ý
Và thật cũng có người, 
Nói lên ý chân thật
Dầu có lời nói gì, 
ẩn sĩ không liên hệ
Do vậy bậc Mâu-ni, 
Không chỗ nào hoang vu.

781. Người ước muốn dắt dẫn, 
Thiên trú điều sở thích
Làm sao từ bỏ được, 
Điều tà kiến của mình, 
Khi tự mình tác thành
Quan điểm riêng của mình, 
Như điều nọ được biết, 
Hãy để nó nói vậy.

782. Người không có ai hỏi, 
Lại nói cho người khác, 
Biết đến những giới cấm
Của tự cá nhân mình. 
Bậc thiện xảo nói rằng, 
Như vậy không Thánh pháp
Nếu ai tự nói lên 
Lời tán thán tự ngã.

783. Vị Tỷ-kheo an tịnh
Sống hết sức tịch tịnh
Khi tán thán giới đức
Không nói "Tôi là vậy". 
Bậc thiện xảo nói rằng 
Như vậy là Thánh pháp 
Với vị ấy đề cao, 
Ở đời, không khởi lên.

784. Với những ai các pháp, 
Được sửa soạn tác thành
Được đặt ra phía trước, 
Không phải không tranh luận
Khi đã thấy lợi ích
Trên tự thân của mình, 
Y đấy, duyên dao động
Đạt được sự tịch tịnh.

785. Đối với các thiên kiến
Không dễ gì vượt qua
Thẩm sát các pháp xong, 
Mới tác thành chấp trước
Do vậy là con người
Đối với trú xứ ấy, 
Có khi quyết từ bỏ
Có khi chấp nhận Pháp.

786. Vị tẩy sạch loại bỏ
Không tìm được ở đời, 
Các kiến được sửa soạn, 
Đối với hữu, phi hữu
Bỏ man trákiêu mạn
Vị tẩy sạch loại bỏ
Vị ấy đi với gì, 
Vị ấy không chấp thủ.

787. Với ai có chấp thủ
Bị chỉ trích trong Pháp, 
Với ai không chấp thủ, 
Lấy gì có thể nói? 
Chính đối với vị ấy, 
Ngã, phi ngã đều không, 
Vị ấy đã tẩy sạch, 
Mọi tà kiến ở đời.

 

 

Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ ba, Đại Tạng Tân Tu 198 tương đương với Dutthatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 780-787

1. Mình còn mang theo tà niệm mà cứ lo chỉ trích người khác (về những sai lầm thiếu sótcủa họ). Mình chỉ ham đề cao cái thấy của mình về sự thật. Khi gặp được một vị chân tuđích thực, thì mình thấy rằng vị ấy chẳng quan tâm gì tới chuyện thị phi và hơn thua cả.

2. Làm sao sử dụng được công phu hành trì của mình để buông bỏ tham dục trong cuộc đời? Làm sao đạt tới được cái đức hạnh cao quý và vượt thoát mọi nhu yếu tranh cãi? Làm sao chế ngự được tham dục? Người ta sẽ đặt cho mình những câu hỏi (thực tế) như thế.

3. Giả dụ có người, không ai hỏi mà tự khoe là mình giữ giới và thực tập giỏi, người ta sẽ nghi rằng người này không nói thật và không đi đúng vào con đường của đạo phápVì vậy những ai muốn học hạnh sa môn phải biết lo tự tịnh hóa mình trước.

4. Đã thực sự dừng lại rồi, và để không còn bị kẹt vào cuộc đời thế tục thì phải thường tự nhắc nhở là mình phải nắm giữ giới luật cho vững chắc. Phải có đức tin nơi đạo pháp, không nên chỉ ba hoa lo dạy đời.

5. Giáo pháp nói lên không có gì bí hiểm mà cũng không bị hư nát. Khi giảng dạy đừng đưa cái ngã của mình lên, không nên vì vui mà dạy, vì giận mà không dạy. Phải thấy được trong sự hành trì của mình không có gì sai lạc và rơi rụng. Nếu mình không bị kẹt vào cái ý riêng của mình thì còn gì để mừng hoặc để giận?

6. Những cái gì ta đã ngỡ là của ta, cần được buông bỏ. Những giáo pháp minh sátcần phải nắm lấy để hành trì. Nếu tha thiết muốn có lợi ích chân thực thì mình sẽ đạt được tuệ giác về không, bởi vì nhìn vào các pháp và thấy được tướng không của chúng cho nên mình biết tất cả vốn là không.

7. Không nên vướng vào bất cứ một xứ nào (của bốn thiền về sắc giới), trong đó có vô sở hữu xứHành trì mà không có ý định sinh về một trong ba cõi. Nếu tất cả những gì vô minh và điên đảo đã được đoạn trừ thì làm sao cái hành của mình lại còn mang tính cách xứ sở?

8. Ý niệm về “có” được phá vỡ tan tành; ngôn ngữ để sử dụng giải bày cũng không còn bị vướng mắc. Đã không bị vướng mắc, đã có khả năng buông bỏ (mọi ý niệm) thì cái hành của mình sẽ có công năng đưa mình tới cái tuyệt đối không kỳ thị.

 

Đại Ý

Kinh này tuy cũng chỉ có tám bài kệ nhưng ý tứ rất sâu sắc. Câu nói: giáo pháp không có gì bí mật (che giấu) và không có gì hư nát là từ kinh này. Một vị mâu ni chân thựckhông quan tâm đến chuyện thị phi và đắc thất. Vị ấy không có nhu yếu tranh cãi và gặt hái tiếng khen. Vị ấy lo tự tu tự độ để có giải thoát trước, chứ không ba hoa lo dạy đời. Vị ấy có khả năng buông bỏ sở tri của mình, cho nên khi được khen không mừng mà khi bị chê cũng không giận.

Kinh này đã nói tới tuệ giác không. Nhìn vào tướng trạng các pháp, thấy được tướng không của các pháp cho nên vị mâu ni vượt thoát được ý niệm về có và đồng thờicũng vượt được ý niệm về không như là ý niệm vô sở hữu xứ.

Kinh này cũng đã nói tới sự phá vỡ các khái niệm trong đó có khái niệm có và khái niệm không, và nhất là đã đề cập tới ý niệm ngôn ngữ đạo đoạn, ta không nên bị kẹt vào ngôn từ.

Cuối cùng kinh này cũng đã nói tới sự buông bỏ (xả) để đạt tới cái không còn kỳ thị.

 

Sn 4.4: Suddhatthaka Sutta — On Purity/Pure Kinh Thanh Tịnh tám kệ (Sn 154) [788-795]

788. Ta thấy vị thanh tịnh
Vị tối thượng, không bệnh, 
Sự thanh tịnh con người
Với tri kiếnđạt được
Nắm giữ quan điểm này. 
Xem đấy là tối thượng
Vị này sẽ xem trí, 
Là tùy quán thanh tịnh.

789. Nếu thanh tịnh con người
Do tri kiến đạt được
Hay với trí vị ấy, 
Từ bỏ sự đau khổ 

Bài viết liên quan

Kinh Đại Bát Niết Bàn

Kinh Đại Bát Niết Bàn Lời Giới Thiệu Giới Thiệu Bản Dịch Kinh 1. Phẩm Thọ Mạng 2. Phẩm Thân Kim Cang 3. Phẩm Công Đức Danh Tự 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 1-4 4. Phẩm Tánh Như Lai Phần 5-7 5. Phẩm Đại Chúng Thưa Hỏi 6. Phẩm Thị Hiện Bệnh 7. Phẩm Thánh Hạnh 8. Phẩm Hạnh Thanh Tịnh 9. Phẩm Hạnh Anh Nhi 10. Phẩm Bồ Tát Quang Minh 11. Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống 12. Phẩm Bồ Tát Ca Diếp 13. Kiều-trần-như Hậu Phần Kinh Đại Bát Niết-bàn Phụ Lục     KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Đoàn Trung Còn & Nguyễn Minh Tiến  

Xem thêm

Kinh Đại Báo Tích

Kinh Đại Báo Tích Lời Nói Đầu Của Dịch Gỉa 01. Pháp Hội Tam Tụ Luật Nghi 02. Pháp Hội Vô Biên Trang Nghiêm 03. Pháp Hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ 04. Pháp Hội Tịnh Cư Thiên Tử 05. Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai 06. Pháp Hội Bất Động Như Lai 07. Pháp Hội Mặc Giáp Trang Nghiêm 08. Pháp Hội Pháp Giới Thể Tánh Vô Phân Biệt 09. Pháp Hội Đại Thừa Thập Pháp 10. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Phổ Môn 11. Pháp Hội Xuất Hiện Quang Minh 12. Pháp Hội Bồ Tát Tạng 12.01. Phẩm Khai Hoá Trưởng Giả Thứ Nhất 12.02. Phảm Kim Tỳ La Thiên Thọ Ký Thứ Hai 12.03. Phẩm Thí Nghiệm Bồ Tát Thứ Ba 12.04. Phẩm Như Lai Bất Tư Nghì Tánh Thứ Tư 12.05. Phẩm Tứ Vô Lượng Thứ Năm 12.06. Phẩm Đàn Na Ba La Mật Đa Thứ Sáu 12.07. Phẩm Thi La Ba La Mật Thứ Bẩy 12.08. Phẩm Sằn Đề Ba La Mật Thứ Tám 12.09. Phẩm Tỳ Lê Gia Ba La Mật Thứ Chín 12.10. Phẩm Tĩnh Lự Ba La Mật Thứ Mười 12.11. Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Thứ Mười Một 12.12. Phẩm Đại Tự Tại Thiên Thọ Ký Thứ Mười Hai 13. Pháp Hội Phật Thuyết Nhơn Xử Thái 14. Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng 15. Pháp Hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký 16. Pháp Hội Bồ Tát Kiến Thiệt 16.01. Phẩm Tự 16.02. Phẩm Tịnh Phạn Vương Đến Phật 16.03. Phẩm A Tu La Vương Thọ Ký 16-04 Phẩm Bổn Sự 16-05 Phẩm Ca Lâu La Vương Thọ Ký 16-06 Phẩm Long Nữ Thọ Ký 16-07 Phẩm Long Vương Thọ Ký 16-08 Phẩm Cưu Bàn Trà Thọ Ký 16-09 Phẩm Càn Thát Bà Thọ Ký 16-10 Phẩm Dạ Xoa Thọ Ký 16-11 Phẩm Khẩn Na La Vương Thọ Ký 16-12 Phẩm Hư Không Hành Thiên Thọ Ký 16-13 Phẩm Tứ Thiên Vương Thọ Ký 16-14 Phẩm Tam Thập Tam Thiên Thọ Ký 16-15 Phẩm Dạ Ma Thiên Thọ Ký 16-16 Phẩm Đâu Xuất Đà Thiên Thọ Ký 16-17 Phẩm Hoá Lạc Thiên Thọ Ký 16-18 Phẩm Tha Hoá Tự Tại Thiên Thọ Ký 16-19 Phẩm Chư Phạm Thiên Thọ Ký 16-20 Phẩm Quang Âm Thiên Thọ Ký 16-21 Phẩm Biến Tịnh Thiên Thọ Ký 16-22 Phẩm Quảng Quả Thiên Thọ Ký 16-23 Phẩm Tịnh Cư Thiên Tử Tán Kệ 16-24 Phẩm Giá La Ca Ba Lợi Bà La Xà Ca Ngoại Đạo 16-25 Phẩm Lục Giới Sai Biệt […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Pháp Luân

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂNBản gốc: bản khắc gỗ Càn LongTam Tạng An Thế Cao đời Hậu Hán An Tức dịch.   Nam mô Bổn Sư Thích Mâu Ni Phật, Nhân dịp kỷ niệm ngày Phật thành đạo ( Phật lịch 2561 – 2017), Phật tử Hoàng Phước Đại, Pháp danh Đồng An, xin gửi đến […]

Xem thêm

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

KINH CHUYỂN HÓA BẠO ĐỘNG VÀ SỢ HÃI(Duy Lâu Lạc Vương Kinh)Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198tương đương với Attadanda Sutta, Sutta-Nipàta 935-9544   Bối Cảnh Đây là kinh Duy Lâu Lặc Vương. Duy Lâu Lặc Vương là tên của vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka), người kế vị vua Ba […]

Xem thêm

Kinh Chánh Kiến

LỜI BAN BIÊN TẬP: Trong các thuật ngữ Phật Giáo, có lẽ không có thuật ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế" hay còn gọi “Chân […]

Xem thêm

    Đăng ký nhận Thông Báo Bài Viết Mới

    hãy đăng ký để nhận báo giá các bài viết mới với cập nhật từ chúng tôi