Kinh Mangala Sutta (Kinh Phước Đức )

KINH MANGALA SUTTA
(Minh Mẫn chú giải)

KInh Phước ĐứcKinh Mangala Suttabản kinh số 5 trong Tiểu bộ thuộc phần Tiểu tụng, được phổ biến trong các quốc gia Phật giáo Nam truyền. Tại Việt Nam được TT Bửu Chánh giảng tại chùa Xá Lọi, HT Huyền Diệu và một vài giảng sư Bắc tông thuyết giảng chung chung.

Mangala có nghĩa la “hạnh phúc” – “Phúc đức” –  “ Điềm lành” – “Phước lành”. Hay nói một cách bao quát hơn, rộng nghĩa hơn  Mangala là những nguyên tắc tạo cho con người thực hành đưa đến một đời sống an lạc, hạnh phúc, lợi mình, lợi người; một nền tảng xây dựng xã hội an lành, đạo đức. Một đạo đức nhân thân đưa đến thành công trong đời sống. Vì thế, không phải là bản kinh chỉ để tụng đọc mà là để hành trì.

Đây là bài kinh quan trọng đến độ, một chú tiểu vào chùa tại Miến điện, đầu tiên được dạy bản kinh này; thậm chí một số sư thuộc lòng, xem đó là bản kinh gối đầu giường và là bản đồ dẫn đạo suốt lộ trình tu tập.

                                                           ***

1. Không gần kẻ ngu si,
Thân cận người hiền trí,
Cúng dường bậc xứng đáng,
phước đức lớn nhất

Nơi đây, chỉ dẫn chứng giá trị của bản kinh qua 38 pháp hành được đức Thế Tôn giảng dạy cho chư Thiên lúc đêm về.

Chữ “ngu”, cũng có nghĩa là xấu ác,là phần đầu tiên đức Thế tôn dạy cho chư Thiên, nó khác với cái “ngu” mà thế thường hay sử dụng. Ngu không chỉ là sự dốt nát vấn đề nào đó, không hiểu điều người khác nói, không phân biệt đúng sai… Chữ ngu như thế không đủ ngôn ngữ diễn đạt, người ta chỉ nói là “ngu như bò”, thật ra bò không hẳn đã ngu, nó biết đường đi lối về sau một ngày cày ruộng, nó biết phân biệt chủ và người lạ; biết giành tình cảm cho con; biết lo sợ khóc lóc khi đưa vào lò mổ.

Chữ “ngu” trong Phật giáo có nghĩa si mê, tăm tối, sa đọa, sống theo bản năng tham dục,luyến ái…Không biết mà tham đắm đã đành, biết là sai quấy mà vẫn phạm cũng gọi là ngu.Hầu hết trong chúng ta, ít nhiều đều phạm phải cái ngu của vô minh Tham-sân-si.Tại sao Phật dạy không nên thân cận, gần gủi, giao du với kẻ ngu? Mà phải thân cận với người hiền trí?.Thế thường bảo – gần mực thì đen, gần đèn thì sáng – đó là cách nói ám chỉ người không đủ bản lãnh tự chủ. Theo tinh thần Phật giáo Bắc truyền, hạnh Bồ tát, phải lăn xả vào đời để độ chúng sanh tội lỗi; không phân biệt kẻ sang người hèn, kẻ tốt người xấu; nếu chọn tốt thì ai sẽ chơi với kẻ xấu? kẻ xấu bị loại ra khỏi cuộc chơi thì muôn đời họ vẫn là kẻ xấu, không có cơ hội học hỏi người tốt để trở thành người tốt?Tuy nhiên, nếu người không đủ bản lãnh tự chủ mà thân cận, giao du với kể tăm tối ngu si, không độ được người ta, ngược lại bị kẻ xấu lôi cuốn vào con đường tội lỗi.Đó là lý do Phật dạy không gần kẻ ngu mà phải thân cận người hiền trí.Tập khí kiết sử ai cũng có, hoặc hiển lộ hoặc tiềm ẩn; người biết tu tập thì các tập khí xấu ác được chế ngự, nếu thân cận kẻ xấu ác thì lâu ngày các hạt giống xấu ác sẽ sống dậy. Ngoại cảnh là vậy, nội tâm có hai bản chất – xấu và tốt, nếu luôn thân cận hạt giống xấu thi biến thành kẻ xấu; “không gần kẻ ngu si”  là không sống với bản chất bất thiện, luôn thể hiện bản tánh hiền trí, có nghĩa luôn thân cận người thánh thiệntrí tuệ.Hạt giống tốt huân tập lâu ngày, cuộc sống thánh thiện trở nên người hiền trí

Xa tránh kẻ ngu si xấu ác, thân cận người hiền trí để học hỏi điều hay,cũng chưa đủ nếu không khởi tâm cúng dường, tôn kính; mà phải cúng dường, tôn kính  bậc xứng đáng; nghĩa là khi hạt giống si mê ám chướng tham dục xa lìa, hiển lộ hạt giống thánh thiện, thì việc cúng dường hạt giống tuệ giác ( bậc xứng đáng) đồng nghĩa với “năng lễ, sở lễ tánh không tịch”, không còn chấp ngã vô ngã, đó là điềm lành tối thượng thứ nhất Phật dạy.

 

2. Ở trú xứ thích hợp,
Quá khứ tạo nhân lành,
Hướng tâm theo lẽ chánh,
Là điềm lành tối thượng

Trong luật Tỳ kheo quy định –   nơi chốn,chỗ ở, là nơi không có nguy hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu tỳ kheo, nơi ở có nguy hiểm, nơi bị bít lối , phạm tăng già bà thi sa.Với tu sĩ đã như vậy thì cư sĩ cũng phải chọn cho mình chỗ ở thích hợp về an ninh, sức khỏe, thuận tiện việc đi lại làm ăn; tiện nghi tối thiểu, không khí trong lành tối thiểu, gần cơ sở giáo dụcthực phẩm không độc hại.Y tế, thực phẩm, không khí, nước uống là những tiêu chuẩn ắt có và đủ tạo một cuộc sống thích hợp cho việc tiến hóa tâm linh.. Chỗ ở loạn lạc, trộm cướp hay toàn thành phần bất hảo thì làm sao an lạc được.Một chỗ ở thuận tiện, kế sinh nhai thuần thiện cần phải có.…Hàng ngàn năm trước, tuy thoát khỏi sự chi phối những luật lệ thông thường thế tục, Đức Phậtchúng sanh cũng phải hướng dẫn đồ chúng sống đúng nguyên tắc an sinh xã hội. Trung Hoa cũng có một nguyên lý địa chính, thổ nhưỡng tương thích với gia chủ tọa lạc trên vùng đất tương sinh,vượng địa, gọi là địa lý thuộc Dịch học.Thầy địa lý xem phương hướng tương thích với tuổi tác, cung mệnh của gia chủ để đoán định cát hung theo hướng tương sinh, đắc địa thu nạp sinh khí mới vượng phát, tránh tai nạn bệnh tật…

Nguyên tắc là vậy, còn tùy thuộc phước báu cá nhân của gia chủ mà kết quả gia giảm nặng nhẹ khác nhau. Địa lý còn bị chi phối vùng đất, khu vực, chợ phố khó mà chọn đúng hướng hạp với tuổi tác. Như vậy, theo lời dạy của đức Phật có thông thoáng hơn, không lệ thuộc tuổi tác, địa lý, chỉ yêu cầu nơi ở thích hợp với tâm trạng đem lại an lành, vui vẻ, không bị nhiều chướng ngại là tốt.

Việc chọn được chỗ ở thích hợp, còn tùy thuộc vào phước nghiệp quá khứ gieo tạo nhân lành Trong Kinh Pháp Hoa có nói: Có những nhân thấy rất nhỏ, nhưng chính những nhân đó đưa chúng ta tới kết quả rất lớn. Có một người đi vào trong tháp hay trong miếu tự nhiên thốt ra: nam mô A Di Đà Phật, chỉ cần nói một câu nhưng chính nhờ hạt giống nhỏ xíu ấy mà sau này người đó thành Phật (Nhất sinh nam mô Phật, da dĩ thành Phật đạo). Mình đã từng phát khởi được tâm niệm lành, đã từng nói được lời lành và đã từng làm được điều lành thì tất cả những điều lành trở thành vốn liếng của mình. Sau này mình thành công được là nhờ vốn liếng đó. Mình đã tạo tác những nhân lành trong quá khứ và trong giây phút hiện tại mình có thể làm thêm. Đức Phật dạy rằng, đừng trì hoãn để làm một việc tốt. Hãy làm ngay. Bởi vì chúng ta chẳng biết khi nào chúng ta sẽ chết. Đừng nói rằng ngày mai tôi sẽ làm việc tốt. Hãy làm một việc gì đó tốt đẹp ngay bây giờ. Chúng ta có quá nhiều điều tốt đẹp để làm. Những gì tốt đẹp nhất mà ta có thể làm lại không cần một thời gian đặc biệt nào, và thậm chí không tiêu tốn tiền bạc của chúng ta.

Tăng thân Làng Mai từng tâm niệm:

Các Đức Thế Tôn thường trú trên đời, xin thương xót con.
Nếu con đã từng bố thí, dù chỉ là một nắm cơm.
Nếu con đã từng từng cứu độ chúng sanh, dù chỉ là vài con sâu con kiến.
Nếu con đã từng nói lời dễ thương, dù chỉ một vài câu làm cho người bớt khổ.

Quá khứ từng tạo nhân lành nên hiện tại gặp quả tốt đi vào chánh đạo dễ dàng.Đó là điềm lành tối thượng.Nếu không tạo nhân lành quá khứ, ngay cả hiện tại thì làm sao có quả tốt cho ta hưởng. Chư Tổ từng nói – “dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị, dục tri lai thé quả, kim sanh tác giả thị. muốn biết cái nhân kiếp trước, hãy xem cái thọ nhận hiện tại, muốn biết quả kiếp sau, hãy xem việc làm hiện nay.

 

3. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Giới luật biết tu tập,
Có những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng

Việc hướng dẫn cho mỗi thành phần, mỗi trình độ khác nhau, Đức Thế Tôn tùy căn cơ, tùy thời điểm, đưa ra những pháp hành khác nhau. Cũng thế, chư Thiên là dạng chúng sanh trọn đời hưởng phước; chúng sanh cỏi Ta bà, phần lớn cũng thích hưởng phước, nhưng không biết cách tạo phước, nếu có tạo phước thì đôi khi không tránh khỏi tạo tội.Do vậy những người giàu sang phú quý, quyền lực khó mà thoát khỏi sự chi phối của nhân quả vô thường.vẫn chịu tác động của khổ đau, không hưởng phước trọn vẹn suốt đời như chư Thiên.Ai đủ duyên đến với Tôn giáo,nhất là đạo Phật, được hướng dẫn cách sống tạo nhân để đến một cảnh giới có nhiều phước báu.Trong sáu cõi mà chúng sanh mãi trôi lăn, gọi là lục đạo luân hồi, chỉ có chư Thiên hưởng phước dồi dào, không biết khổ là gì, sướng quá khó tu, không nghĩ đến tu, đến khí phước mãn, hiện ngũ tướng suy, lúc đó chư Thiên chuẩn bị trở lại cõi thấp hơn để rèn luyện tu tập tạo phước,hoặc trả quảhạt giống nghiệp nhân ẩn sâu trong tiềm thức chưa có cơ hội trổ phát.Cõi người do phước tội lẫn lộn nên sung sướng khổ đau luôn thay nhau xuất hiện; người sướng nhiều khổ ít, kẻ sướng ít khổ nhiều. Sướng quá cũng khó tu, khổ quá càng khó tu, ngoại trừ có sẵn hạt giống  đạo đức, mới đến với Đạo để tiếp tục học hỏi, tránh ác làm lành.

Do căn cơ của chư Thiên cũng như một số người trong cõi Nam Diêm phù Đề muốn hành thiện tạo phúc, đức Phật hướng dẫn cách sống theo chánh mạn và chánh nghiệp. Nghề nghiệp là phương tiện sống; mỗi thời đại phát sanh thêm những nghề mới. Năm mươi năm trước, thế hệ ông bà không biết vi tính là gì. Nhiều kỷ nghệ khoa học càng ngày càng phát triển, chỉ cần không quan tâm theo dõi đã trở thành lỗi thời lạc hậu. Ngày nay một vài vị chưa biết cách sử dụng computer, máy điện thoại cảm ứng…Để thích ứng với đời sống xã hội, Đức Phật khuyến khích học nhiều nghề và nghề nghiệp thật giỏi. Ngày xưa ông cha quan niệm – nhất nghệ tinh, nhất thân vinh – với xã hội đa dạng ngày nay, ngoài nghề chính, cần có thêm nghề tay trái, nguồn thu nhập mới đủ nuôi sống gia đình. Một Bác sĩ chuyên khoa cũng phải tìm hiểu học hỏi thêm các ngành khác trong y học. Gần ba ngàn năm trước, Đức Phật đã thấy giá trị nhu cầu cần phải học nhiều và nghề nghiệp thật giỏi; “

Kiến thức đa văn dễ đưa đến cống cao ngã mạn, để hỗ trợ cho việc tiến thân trong sự nghiệp, cần có đạo hạnh để nhân cách được hoàn chỉnh.Đạo hạnh thông qua giới luật. Về phương diên kỷ luật, dĩ nhiên dù sống cá nhân hay môi trường tập thể cũng cần có kỷ luật. Hãy nghe sư Nam Tông nói về kỷ luật của một nhà sư: Chúng tôigiới luật về cách sống, sinh hoạt. Kể cả cách mặc y cũng là một giới luật. Đức Phật dạy chúng tôi cách đi đứng. Cách bước đi. Không bước đi những bước ngắn. Điều đó trông không ổn, không trang nghiêm. Cũng không bước những bước thật dài. Điều đó trông cũng không ổn. Bạn mất sự cân bằng. Bước đi không quá ngắn, không quá dài. Không bước đi trên những ngón chân. Không bước đi bằng gót chân. Liệu trông có ổn không, khi một ai đó bước đi bằng gót chân? Trông sẽ rất vụng về. Bạn cần bước đi với các bước chân đều đặn đặt lên nền nhà. Trong kinh điển Pali, có những miêu tả về cách mà Đức Phật bước đi. Chúng tôi học về những điều đó, cố gắng hiểu cũng như thực hành cách bước đi như vậy của Đức Phật.

Phật giáo Bắc tông, trước khi thọ Sa Di, cũng phải nằm lòng bốn cuốn luật – Tỳ ni –Sa Di – oai nghicảnh sách. Cơ bản huấn luyện nhân cách cho một tu sĩ bước đầu làm thầy.

Tùy khả năng thọ trìphát nguyện những giới điều cần phải có. Giới của xuất gia dành cho những vị quyết tâm thoát ly sanh tử. Giới của vị xuất gia nam khác với vị xuất gia nữ. Giới của mấy chú tập sự khác với Sa Di, Sa Di khác với Tỳ Kheo, giới Thức Xoa cũng thế..Do đời sống xuất gia không bận tâm với cuộc sống thế tục, không đòi hỏi nghề nghiệp, học vị, nên giới luật càng nhiều càng thúc liễm thân tâm tránh điều giới phạm.

Bản thân được trang bị đạo giới và kiến thức nghề nghiệp, Đức Phật không quên nhắc nhở vê ngôn cách ứng xử đối với chung quanh. Thế thường, ông bà đã dạy – lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Chính quyền nào cũng có bộ Ngoại giao, là bộ phận dùng khả năng ăn nói truyền đạt chủ trương, đường lối của một chính sách, để đối tác chấp nhận điều mình truyền đạt. Ngôn ngữphương tiện truyền đạt; mỗi chủng loại có một ngôn ngữ riêng chứ không riêng loài người. Nếu khôngngôn ngữ của chủng loại làm sao ong và kiến xây dựng được tổ, tha mồi tích lũy, điều khiển ong thợ mà ong chúa, kiến chúa duy trì đời sống tập thể…

Qua ngôn ngữ, thể hiện bản tánh của người truyền đạt. dù là vị trí bình thường hay có chức quyền trong xã hội, trong Tôn giáo, ngôn hành đóng vai trò thành bại trong công việc.Một quản lý hay một giám đốc có lời lẽ ôn tồn khác với lời nói cộc cằn thô lỗ tỏ vẻ quyền uy đối với nhân viên thuộc cấp. Một trụ trì khôn khéo từng lời nói dễ cảm hóa đồ chúng hơn là nóng nảy thị uy của kẻ có chức quyền. “Nhất sân chi hỏa năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn”. Phật đã dạy thế nhưng mấy ai thể hiện khi việc bất bình xảy đến. Sân thể hiện qua ngôn từ và hành động.

Trong “tứ nhiếp pháp”, ái ngữ đứng hàng thứ hai sau bố thí. Do tầm quan trọng của lời nói, phần thứ nhì trong 38 pháp hạnh phúc kinh Điêm lành này, Phật dạy chư Thiên“Có những lời khéo nói,Là điềm lành tối thượng”

Lời nói khôn khéo vui lòng người nghe là truyền đạt năng lượng yêu thương, thể hiện đức nhân, tăng trưởng phước nghiệp, vì thế Phật bảoĐiềm lành tối thượng.
Phải nói, Đức Thế Tôn là nhà tâm lý sâu sắc,nhắc nhỡ dạy dỗ cho chư Thiên cũng là cho loài người, một cách chu đáo.

Trong phần ba, theo Thiền sư Nhất Hạnh chuyển dịch từ Hán tự:

Bài kệ 3
Nhược bất tùng thiên nhân 若不從天人
Hy vọng cầu kiểu hạnh 希望求僥倖
Diệc bất đáo thần từ  亦不禱神祠 
Thị vi tối cát tường 是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Không chạy theo các giới trời và người,
để cầu mong ban phúc và tránh họa,
cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu,
đó là điềm lành lớn nhất.

 

4.Hiếu dưỡng mẹ và cha.

 Biết nuôi nấng vợ con.

Việc làm không xungkhắc, 

  Là điềm lành tối thượng

Hiếu dưỡng mẹ cha là đức tính quan trọng trong nền giáo dục học đường cũng như trong gia đình, nhất là các nước thuộc châu Á. Việt Nam, Trung Hoa (ngày xưa), Đại Hàn, Nhật Bản…Việt Nam ngày nay, tuy không đặt nặng việc hiếu dưỡng trong chương  trình giáo dục, nhưng truyền thống đó vẫn luôn tồn tại; Tinh thần đạo Hiếu trong Phật giáo Bắc tông, hàng năm, tháng bảy được xem là tháng báo hiếu, cộng thêm tính nghệ thuật “Hoa hồng cài áo” được phổ biến trong các chùa, nhất  là các đơn vị GĐPT, các em tổ chức rất bài bản, thể hiện giáo dục tính thiết thực hiếu đạo đối với cha mẹ tại buổi lễ,quỳ dưới chân thân mẫu, dâng lên tâm tư, tình cảm và lời hối lỗi trong năm qua đã làm cho mẹ, cho cha buồn lòng. Hôn và dâng quà lên đấng sanh thành.

Một số gia đình phát nguyện trai tịnh suốt tháng bảy để cầu siêu thân bằng quyến thuộc quá vãng.Nếu có điều kiện kinh tế, phát tâm cúng trai Tăng một ngày. Thường xuyên tụng kinh Vu Lan và sám hối, làm phước, bố thí. Những năm gần đây, Ơ miền Nam, nhà nhà đua nhau làm phước, không những trong mùa báo hiếu, mà mùa dịch bệnh, nhiều nhà cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân nghèo qua nhiều hình thức; Vài nơi cung cấp nhà lầu cho cư dân tha hương có chỗ ở, lo cho họ cơm nước từng bữa. Một cán bộ về hưu mua xe đưa đón bệnh nhân miễn phí.Cơm miễn phí vào ngày sóc vọng. bình nước đặt vỉa hè, xe bánh mỳ cho người vô gia cư hoặc ai cần, đến lấy.

Nhà nhà làm phước, người người làm thiện, không những là truyền thống lá lành đùm lá rách, mà cha ông từng dạy – “bầu ơi thương bí lấy cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tinh thần tương thân tương ái đã gắn bó keo sơn tình người trong xã hội. Nhất là mùa dịch bệnh, trước vô thường, tiền của không thế mạng được, vì thế tình thương và lòng nghĩa hiệp trỗi dậy.Vu Lan năm nay, tuy bị giới hạn vì dịch bệnh, nhưng các chùa vẫn không thiếu bóng hình mùa Hiếu hạnh. Truyền thống báo hiếu, không chỉ nhắc nhở con cháu mà còn có dịp để cha mẹ, ông bà nhớ đến nghĩa vụ giáo dục, làm gương cho lớp trẻ.

Tích xưa kể rằng –đứa bé nhìn bố đóng củi, bèn hỏi, bố trả lời, mai bố đưa nội lên bỏ trên núi, nhà quá nghèo, bố không nuôi được; bé con nói – bố nhớ đem củi về lại để sau này bố gìà yếu, con đưa bố lên núi! Nhị thập tứ hiếu là sách xưa kể lại 24 mẫu người hiếu của Tàu. Hiếu là phải dưỡng,nhưng dưỡng theo kiểu Vương Tường đời Tấn  đặt ván lên trên tuyết để nằm chờ cá lý ngư từ dưới tuyết nhảy lên để bắt đem về làm cho kế mẫu ăn. Hoặc như Ngô Mạnh Tông, cha mất sớm, ở với mẹ, mùa đông đâu có măng, mẹ thèm canh măng, Mạnh Tông buồn vì không tìm được măng để nấu canh cho mẹ ăn nên ôm gốc tre khóc, động lòng trời đất cho măng mọc ra, đem về nấu canh cho mẹ dùng. Những chuyện thiếu thực tế như thế, nhưng nói lên tâm hiếu và dưỡng của đạo làm con ngày xưa bên Tàu; nghĩa vụ làm con bằng tấm lòng.Tuy nhiên, tùy xã hội và cuộc sống ngày nay, con cháu khó mà thể hiện chữ hiếu trọn vẹn. Kinh tế eo hẹp, không có thì giờ chăm sóc, buộc lòng phải gửi cha mẹ vào cơ sở xã hội chăm sóc người già. Cuối tuần vào thăm viếng. Dẫu sao – “công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Phật dạy: -Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật! Này Thiện Sinh, kẻ làm con phải kính thuận cha mẹ với năm điều. Những gì là năm?

“1.) Cung phụng không để thiếu thốn.

“2.) Muốn làm gì thưa cha mẹ biết.

“3.) Không trái điều cha mẹ làm.

“4.) Không trái điều cha mẹ dạy.

“5.) Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.

 

Đạo Hiếu là vậy, còn đạo chồng vợ là một nghĩa vụ thiêng liêng, nói lên tính tương quan tình nghĩa tự nguyện đến với nhau, phải có trách nhiệm lẫn nhau.Thế thường bảo rằng – Con là nợ, chồng vợ là oan gia, cửa nhà là nghiệp báo. Cho dù là nợ, là oan gia, là nghiệp báo, đã tạo là phải có trách nhiệm, không thể phó thác cho vợ hay cho chồng để tìm niềm vui riêng.Câu nói đó dễ giúp cho kẻ vô trách nhiệm phủi tay.Trách nhiệm đi liền với đạo đức. Kinh Thiên sinh Phật dạy:

“Này Thiện Sinh, chồng cũng phải có năm điều đối với vợ:

“1.) Lấy lễ đối đãi nhau.

“2.) Oai nghiêm không nghiệt.

“3.) Cho ăn mặc phải thời.

“4. Cho trang sức phải thời

.

“5.) Phó thác việc nhà.

“Này Thiện Sinh, chồng đối đãi vợ có năm điều, vợ cũng phải lấy năm việc cung kính đối với chồng. Những gì là năm?

“1.) Dậy trước.

“2.) Ngồi sau.

“3.) Nói lời hòa nhã.

“4.) Kính nhường tùy thuận.

“5.) Đón trước ý chồng.

Vợ chồng lấy nghĩa và tình xây dựng tổ âm, thì cũng phải có trách nhiệm dạy dỗ  con cái cho nên người, để biết cách hiếu dưỡng cha mẹ mà còn có trách nhiệm với xã hội và có nhân cách trong cuộc sống.

Mọi sinh hoạt trong gia đình đến nghề nghiệp kiếm sống ngoài xã hội thuận với vợ con và hợp với đạo lý. Đó là nhữngviệc làm đem đến tốt đẹp nhất trong cuộc sống.

Bài kệ 4, Thiền sư Nhất Hạnh dịch:

 

 

5. Bố thí, hành đúng pháp,
Giúp quyến thuộc họ hàng,
Hành xử không tỳ vết,
Là điềm lành tối thượng

Bố thícông hạnh đầu tiên của Tứ nhiếp pháp, cũng là một trong sàu hạnh Ba La Mật. Ý nghĩa đầu tiên của bố thí là hạnh xả ly; tâm không hẹp hòi,lòng vị tha…giúp đối trị lòng tham, tính vị kỷ.

Bố thí gồm – tài thípháp thívô úy thí. Tài thí là dùng của cải vật chất giúp đỡ kẻ thiếu thốn; tài thí gồm có nội tài và ngoại tài.Hiến tặng nội tạng, một phần thân thể là nội tài, ngoài ra dùng vật chất để thí là ngoại tài. hành động hiến tặng vật chất, năng lực hoặc trí huệ cho người khác là tài thí.

Sự cúng dường của Ma Ha Ca Diếp 

Ca Diếp có nghĩa là Ẩm Quang, vì thân hình của ngài lúc nào cũng tỏa ra ánh sáng rực rỡ và trang nghiêm. Trong một tiền kiếp quá khứ xa xưa vào thời Đức Phật 

Bài viết liên quan

Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya)

Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya) Mục Lục Tổng Quát Chương Một Pháp Phẩm 01-14 Phẩm 15-21 Chương Hai Pháp Phẩm 01-04 Phẩm 05-17 Chương Ba Pháp Phẩm 01-04 Phẩm 05-07 Phẩm 08-10 Phẩm 11-16 Chương Bốn Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-12 Phẩm 13-18 Phẩm 19-21 Phẩm 22-28 Chương Năm Pháp Phẩm 01-06 Phẩm 07-12 Phẩm 13-18 Phẩm 19-26 Chương Sáu Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-05 Phẩm 06-12 Chương Bẩy Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-09 Chương Tám Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-10 Chương Chín Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-10 Chương Mười Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-09 Phẩm 10-12 Phẩm 13-22 Chương Mười Một Pháp Phẩm 01-03 Đại Tạng Kinh Việt NamKINH TĂNG CHI […]

Xem thêm

Kinh Sunita-Sutta

Kinh Sunita-Sutta  (Câu chuyện về người nghèo khổ Sunita) Hoang Phong chuyển ngữ Bài kinh này được chọn trong bộ kinh Theragatha mà kinh sách Hán ngữ gọi là Trưởng Lão Tăng Kệ, thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka). Trong chữ Theragatha thì tiền ngữ thera có nghĩa là "người xưa" hay "người đi trước", và […]

Xem thêm

Kinh Sedaka, Tại Sedaka có người nghệ sĩ xiếc nhào lộn

KINH SEDAKA  TẠI SEDAKA CÓ NGƯỜI NGHỆ SĨ XIẾC NHÀO LỘN,  Dịch từ tiếng Pali: Thanissaro Bhikkhu – Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến – Source-Nguồn: www.accesstoinsight.org(Sedaka Sutta: At Sedaka, The Acrobat – Translated from the Pali by: Thanissaro Bhikkhu)   Ảnh minh họa Tôi đã nghe nói rằng, có một thời Đức Phật đã sống […]

Xem thêm

Kinh Saṃyuktāgama 17: Bứng Gốc Và Buông Bỏ

KINH SAṂYUKTĀGAMA 17: BỨNG GỐC VÀ BUÔNG BỎ Nguyên Giác    Có một số kinh được Đức Phật đưa ra và gọi đó là giáo pháp ngắn gọn, để dạy một số chư tăng khi quý ngài bạch rằng tuổi đã cao, bây giờ cần một lời dạy giáo pháp ngắn gọn để lui về […]

Xem thêm

Kinh Samiddhi – Samiddhi Sutta (sn 1.20)

Tương Ưng Bộ Kinh – Samyutta NikayaKINH SAMIDDHI – SAMIDDHI SUTTA (SN 1.20)About Samiddhi  Translated from the Pali by Thanissaro BhikkhuChuyển dịch từ Pali: HT Thích Minh Châu   Trình bày: Lưu Mỹ Liên I have heard that Như vầy tôi nghe. On one occasion the Blessed One was staying near Rajagaha at Tapoda monastery. Then Ven. Samiddhi, as night was ending, […]

Xem thêm