Kinh Người Đất Phương Tây (hay Người Đã Chết)

Giới thiệu:

tuong-ung-biaBài kinh "Người đất phương Tây" hay "Người đã chết" được trích trong phẩm Tương ưng thôn trưởng của Tương Ưng Bộ kinh IV (Đại tạng kinh Việt Nam, HT Minh Châu dịch Việt).

Duyên khởi của bài kinh này cũng như toàn bộ phẩm Tương ưng thôn trưởng đều do các vị trưởng thôn đến thỉnh vấn Đức Phật. Nhiều vấn đề gần gũi với cuộc sống qua lời dạy của Đức Phật đã được làm sáng tỏ.

Với trí tuệ mẫn tiệp, Thế Tôn đã giải đáp tất cả các câu hỏi mà không làm tổn thương đến tình cảm của người thỉnh vấn. Kỹ thuật diễn bày sự thật trong bài kinh trên là một minh chứng. Bằng phương pháp đặt ra các câu hỏi để người hỏi tự suy nghĩ, rút ra kết luận và bằng cách sử dụng các ví dụ so sánh cụ thể sinh động, Đức Phật đã khéo léo trình bày một bài học về ý nghĩa thực sự của cầu nguyện.

Trên góc độ đạo đức, nguyện cầu là thể hiện sự quan tâm với cá nhân. Những ao ước một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người quá vãng là một nét đẹp tinh thần rất đáng trân trọng. Thế nhưng, cao hơn tất cả những lời cầu nguyện, tán tụng, vẫn là một nếp sống trong sạch được xây dựng trên nền tảng đạo đức của 5 giới trong đạo Phật.

Từ ý nghĩa của bài kinh, có thể khẳng định đối với người Phật tử nổ lực tu tập thanh tịnh thân tâm theo 5 giới là điều kiện vững chắc quyết định cho sự giải thoát. Trong định hướng tư duy ấy, bài kinh "Người đất phương Tây" hay "Người đã chết" là nền tảng cho mọi suy tư trong tu tập của người Phật tử.


 

On one occasion the Blessed One was staying near Nalanda in the Pavarika Mango Grove. Then Asibandhakaputta the headman went to the Blessed One and on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there he said to the Blessed One:
-“The brahmans of the Western lands, lord — those who carry water pots, wear garlands of water plants, purify with water, & worship fire — can take [the spirit of] a dead person, lift it out, instruct it, & send it to heaven. But the Blessed One, worthy & rightly self-awakened, can arrange it so that all the world, at the break-up of the body, after death, reappears in a good destination, the heavenly world.”
Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba. Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
– “Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh tịnh, & thờ lửa – có thể gọi (hồn) một người đã chết ra khỏi xác, hướng dẫn vị ấy và đưa vị ấy vào Thiên giới. Còn Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như vậy để cho toàn nhân loại, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Thiên giới không?”
“Very well, then, headman, I will question you on this matter. Answer as you see fit. What do you think:
-“There is the case where a man is one who takes life, steals, indulges in illicit sex; is a liar, one who speaks divisive speech, harsh speech, & idle chatter; is greedy, bears thoughts of ill-will, & holds to wrong views. Then a great crowd of people, gathering & congregating, would pray, praise, & circumambulate with their hands palm-to-palm over the heart [saying,] ‘May this man, at the break-up of the body, after death, reappear in a good destination, the heavenly world!’ What do you think: would that man — because of the prayers, praise, & circumambulation of that great crowd of people — at the break-up of the body, after death, reappear in a good destination, the heavenly world?”
Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn hãy trả lời.

-“Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Nếu một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiên giới!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do được đại quần chúng cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh, sau khi thân hoại mạng chung, có được sanh lên thiên giới không?”

“No, lord.” – Thưa không, bạch Thế Tôn.
“Suppose a man were to throw a large boulder into a deep lake of water, and a great crowd of people, gathering & congregating, would pray, praise, & circumambulate with their hands palm-to-palm over the heart [saying,] ‘Rise up, O boulder! Come floating up, O boulder! Come float to the shore, O boulder!’ What do you think: would that boulder — because of the prayers, praise, & circumambulation of that great crowd of people — rise up, come floating up, or come float to the shore?” Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh và nói rằng: “Hãy trồi lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do được đại quần chúng cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh, có thể trồi lên, nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?
“No, lord.” – Thưa không, bạch Thế Tôn.
“So it is with any man who takes life, steals, indulges in illicit sex; is a liar, one who speaks divisive speech, harsh speech, & idle chatter; is greedy, bears thoughts of ill-will, & holds to wrong views. Even though a great crowd of people, gathering & congregating, would pray, praise, & circumambulate with their hands palm-to-palm over the heart — [saying,] ‘May this man, at the break-up of the body, after death, reappear in a good destination, the heavenly world!’ — still, at the break-up of the body, after death, he would reappear in destitution, a bad destination, the lower realms, hell. – Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiên giới!” Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
“Now what do you think: There is the case where a man is one who refrains from taking life, from stealing, & from indulging in illicit sex; he refrains from lying, from speaking divisive speech, from harsh speech, & from idle chatter; he is not greedy, bears no thoughts of ill-will, & holds to right view. Then a great crowd of people, gathering & congregating, would pray, praise, & circumambulate with their hands palm-to-palm over the heart [saying,] ‘May this man, at the break-up of the body, after death, reappear in destitution, a bad destination, the lower realms, hell!’ What do you think: would that man — because of the prayers, praise, & circumambulation of that great crowd of people — at the break-up of the body, after death, reappear in destitution, a bad destination, the lower realms, hell?” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do được đại quần chúng cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?
“No, lord.” – Thưa không, bạch Thế Tôn.
“Suppose a man were to throw a jar of ghee or a jar of oil into a deep lake of water, where it would break. There the shards & jar-fragments would go down, while the ghee or oil would come up. Then a great crowd of people, gathering & congregating, would pray, praise, & circumambulate with their hands palm-to-palm over the heart [saying,] ‘Sink, O ghee/oil! Submerge, O ghee/oil! Go down, O ghee/oil!’ What do you think: would that ghee/oil, because of the prayers, praise, & circumambulation of that great crowd of people sink, submerge, or go down?” Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh và nói rằng: “Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!”. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có phải do được đại quần chúng cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh, nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?
“No, lord.” – Thưa không, bạch Thế Tôn.
“So it is with any man who refrains from taking life, from stealing, & from indulging in illicit sex; refrains from lying, from speaking divisive speech, from harsh speech, & from idle chatter; is not greedy, bears no thoughts of ill-will, & holds to right view. Even though a great crowd of people, gathering & congregating, would pray, praise, & circumambulate with their hands palm-to-palm over the heart — [saying,] ‘May this man, at the break-up of the body, after death, reappear in a destitution, a bad destination, the lower realms, hell!’ — still, at the break-up of the body, after death, he would reappear in a good destination, the heavenly world.” – Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay vái đi xung quanh và nói rằng: “Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên Thiên giới.
When this was said, Asibandhakaputta the headman said to the Blessed One: “Magnificent, lord! Magnificent! Just as if he were to place upright what was overturned, to reveal what was hidden, to point out the way to one who was lost, or to carry a lamp into the dark so that those with eyes could see forms, in the same way has the Blessed One — through many lines of reasoning — made the Dhamma clear. I go to the Blessed One for refuge, to the Dhamma, & to the community of monks. May the Blessed One remember me as a lay follower who has gone for refuge from this day forward, for life.” Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn: Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng lại những gì bị lật úp, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!

Diệu Nguyệt biên tập trên https://thuvienhoasen.org/p15a712/3/42-chuong-viii-tuong-ung-thon-truong 

Paccha-bhumika Sutta: [Brahmans] of the Western Land SN 42.6, Thanissaro Bhikkhu dịch

Bài đọc thêm:
https://thuvienhoasen.org/p22a21700/06-cau-nguyen-va-tung-kinh 

Bài viết liên quan

Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya)

Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya) Mục Lục Tổng Quát Chương Một Pháp Phẩm 01-14 Phẩm 15-21 Chương Hai Pháp Phẩm 01-04 Phẩm 05-17 Chương Ba Pháp Phẩm 01-04 Phẩm 05-07 Phẩm 08-10 Phẩm 11-16 Chương Bốn Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-12 Phẩm 13-18 Phẩm 19-21 Phẩm 22-28 Chương Năm Pháp Phẩm 01-06 Phẩm 07-12 Phẩm 13-18 Phẩm 19-26 Chương Sáu Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-05 Phẩm 06-12 Chương Bẩy Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-09 Chương Tám Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-10 Chương Chín Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-10 Chương Mười Pháp Phẩm 01-03 Phẩm 04-06 Phẩm 07-09 Phẩm 10-12 Phẩm 13-22 Chương Mười Một Pháp Phẩm 01-03 Đại Tạng Kinh Việt NamKINH TĂNG CHI […]

Xem thêm

Kinh Sunita-Sutta

Kinh Sunita-Sutta  (Câu chuyện về người nghèo khổ Sunita) Hoang Phong chuyển ngữ Bài kinh này được chọn trong bộ kinh Theragatha mà kinh sách Hán ngữ gọi là Trưởng Lão Tăng Kệ, thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka). Trong chữ Theragatha thì tiền ngữ thera có nghĩa là "người xưa" hay "người đi trước", và […]

Xem thêm

Kinh Sedaka, Tại Sedaka có người nghệ sĩ xiếc nhào lộn

KINH SEDAKA  TẠI SEDAKA CÓ NGƯỜI NGHỆ SĨ XIẾC NHÀO LỘN,  Dịch từ tiếng Pali: Thanissaro Bhikkhu – Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến – Source-Nguồn: www.accesstoinsight.org(Sedaka Sutta: At Sedaka, The Acrobat – Translated from the Pali by: Thanissaro Bhikkhu)   Ảnh minh họa Tôi đã nghe nói rằng, có một thời Đức Phật đã sống […]

Xem thêm

Kinh Saṃyuktāgama 17: Bứng Gốc Và Buông Bỏ

KINH SAṂYUKTĀGAMA 17: BỨNG GỐC VÀ BUÔNG BỎ Nguyên Giác    Có một số kinh được Đức Phật đưa ra và gọi đó là giáo pháp ngắn gọn, để dạy một số chư tăng khi quý ngài bạch rằng tuổi đã cao, bây giờ cần một lời dạy giáo pháp ngắn gọn để lui về […]

Xem thêm

Kinh Samiddhi – Samiddhi Sutta (sn 1.20)

Tương Ưng Bộ Kinh – Samyutta NikayaKINH SAMIDDHI – SAMIDDHI SUTTA (SN 1.20)About Samiddhi  Translated from the Pali by Thanissaro BhikkhuChuyển dịch từ Pali: HT Thích Minh Châu   Trình bày: Lưu Mỹ Liên I have heard that Như vầy tôi nghe. On one occasion the Blessed One was staying near Rajagaha at Tapoda monastery. Then Ven. Samiddhi, as night was ending, […]

Xem thêm