Sơ quát vài nét về Thiền định trong tam giới theo Duy Thức Học

SƠ QUÁT VÀI NÉT VỀ THIỀN ĐỊNH
TRONG TAM GIỚI THEO DUY THỨC HỌC
Khánh Hoàng

 

Lời  Nói Đầu:

Bài viết mang nặng tính học thuật, lý thuyết, tổng hợp, cảm nhận, suy luận chủ quan, nên chỉ có tính cách dùng để tham khảo.  Mong được các bậc cao minh bổ chính và chỉ giáo thêm.  Xin chân thành cảm tạ.                                                                   

 

hoa senĐã có rất nhiều tài liệu đề cập về Thiền bao gồm  Thiền Định, Thiền Chỉ, Thiền Quán, Thiền Tọa, Thiền Hành, Thiền Phàm Phu, Thiền Ngoại Đạo, Thiền Tiểu Thừa, Thiền Trung Thừa, Thiền Đại Thừa, Thiền Tối Thượng Thừa…. Tất cả đều là những sắc thái, tướng trạng, hiện tượngtác động từ tâm thức chúng ta trong ý hướng tu tập trên đường giải thoát, giác ngộ Phật đạo.  Sự giác ngộ giải thoát nơi Phật Đạo, tuy nhiên, lại quá phong phú, đa diện với sắc thái tâm thức rất sâu xa vi tế nên dù Phật tánh vẫn sẳn đủ nơi tất cả các loài chúng sanh trong tam giới (Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới) mà chúng sanh do nghiệp lực sâu dày nên chẳng hề hay biết. Nghiệp lực sâu dày này được hình thành, sinh tạo từ nơi các thức chấp ngã, chấp cảnh mà sinh ra phiền não chủng tử tập khí; rồi chủng tử tập khí được tồn trữ lâu dài cũng ở ngay nơi nguồn căn của thức theo vô lượng kiếp sống quá khứ. Bài viết này chỉ nhằm sáng tỏ thêm vài nét sơ quát, cơ bản về một số con đường tu tập về Thiền Định trong Tam Giới theo Phật đạo qua Duy Thức Học.

Tâm thức con người được  Duy Thức Học phân định ra 8 thức Tâm Vương. Đó là A Lại Da thức (còn gọi là Tâm), Mạt Na thức (còn gọi là Ý hoặc Ý Căn ), Ý thức (còn gọi là Thức), Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỹ thức, Thiệt thức, Thân thức (gọi chung là Tiền Ngũ Thức). Trong đó,  A Lại Da thức (Tâm) có công năng chính là tích tập chủng tử tập khí, Mạt Na thức (Ý) có công năng chính là tư lương chấp ngã, 6 thức còn lại (gọi tên chung là Tiền Lục Thức) có công năng chính là phân biệt cảnh trần (liễu cảnh).

Trong 8 thức Tâm Vương, thức quan trọng và gần gũi nhất trong sinh hoạt đời sống thế gian và cả trong các giai đoạn sơ khởi, bước đầu tu tập cuộc sống xuất thế gian chính là Ý thức (Thức, còn gọi là Đệ Lục Thức hay là Thức Thứ Sáu). Lý doÝ thức hiện diện hầu như thường xuyên, chỉ vắng mặt trong 5 trường hợp là nơi cõi trời Vô Tưởng, hai Định Vô Tâm (Vô Tưởng Định, Diệt Tận Định), thùy miên (ngũ say), và muộn tuyệt (chết giấc).

"Ý thức thường hiện khởi            (Ý thức thường hiện khởi

Trừ sanh Vô Tưởng thiên              Ngoại trừ sanh nơi trời Vô Tưởng

Cập Vô Tâm nhị định                      Cùng hai Định Không Tâm 

Thùy miên dữ muộn tuyệt"           Ngũ say cùng chết giấc)

Lý do kế tiếpÝ thức chính là nơi tiếp nhận đầy đủ nhất các nguồn công năng phân biệt chấp ngã, chấp pháp từ Mạt Na thứcA Lại Da thức; và Ý thức cũng chính là nơi vừa phân bố, vừa qui kết các năng lực phân biệt, chấp mắc cảnh trần nơi Tiền Ngũ Thức. Do đây, Ý thức được phân biệt có 2 loại là "Độc Đầu Ý thức" (Ý thức hoạt động riêng biệt, không chung cùng với Tiền Ngũ Thức) và "Ngũ Câu Ý thức" (Ý thức hoạt động chung cùng với Tiền Ngũ Thức). Trong khi Mạt Na thức (Ý) chỉ có công năng chấp ngã, Tiền Ngũ Thức chỉ có công năng liễu cảnh, Ý thức lại gộp chung có cả hai công năng này nên Ý thức vừa có công năng tư duy phân biệt liễu cảnh (của Tiền Ngũ Thức ) và vừa có công năng tư  lương phân biệt chấp ngã (của Mạt Na thức). Do Ý thứcphạm vi, mức độ hoạt động tư duy về chấp ngã và liễu cảnh vô cùng mạnh mẽ và rộng rãi như thế nên nó cũng được xem là khởi điểm rất quan trọng cho công phu tu tập của tất cả các pháp môn của đạo Phật (trong đó có công phu Thiền Định của Phật đạo) và của tất cả tôn giáo khác cũng như cho sự tinh luyện, thăng tiến ở tất cả các ngành nghề sinh hoạt thông thường nơi đời sống tục đế trên thế giới hiện nay. Vì thế trong bát thức Tâm Vương, bước đầu tu tập Thiền và Định luôn liên hệ mật thiết với Ý thức. Mối liên hệ giữa Ý thức cùng các thức khác và Thiền Định ra sao, chúng được diễn biến như thế nào trong tiến trình tu tập thiền định nơi ba cõi (Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới)?

1. Thiền Dục Giới:

Điều cần được xác nhận trước tiênchúng ta đang sống và sinh hoạt trong Dục Giới. Đây là cõi giới thấp nhất trong ba cõi giới (Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới) theo đạo Phật. Cõi Dục có 6 loài từ thấp đến cao là: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh, A Tu La, Người, và Trời. Cõi này còn được gọi tên là "Ngũ thú tạp cư địa" (Cõi có 5 loài cư trú hỗn tạp, 5 loài này chính là 6 loài vừa kể mà không có A Tu LaA Tu La có mặt trong khắp 5 loài đó).

 Chúng sanh ở cõi Dục chỉ dùng đoạn thực (nhai nghiền, tiêu hóa thức ăn từ 4 đại nơi trần cảnh) để nuôi thân tâm. Để duy trì, tiếp nối nòi giống, chúng sanh cõi này có 4 cách sanh (tứ sanh, 4 chủng nghiệp sanh khởi của các loài hữu tình) là noãn sanh (sanh qua trứng như loài chim, gà, vịt, rắn… ), thai sanh (sanh qua thai như loài người, trâu, bò, chó, mèo…), thấp sanh (sanh nơi ẩm ướt như các loài nấm mốc…), và hóa sanh (sanh qua biến hóa như  trứng bướm hóa sâu bướm rồi sâu hóa nhộng rồi biến thành bướm, hoặc như cung quăng biến thành muỗi…).

Loài người cõi Dục có đủ 5 thọ (cảm thọ, cảm giác), kể theo thứ tự từ nặng đến nhẹ là : Ưu thọ, Khổ thọ, Hỷ thọ, Lạc thọXả thọ. Tùy theo phước đức- tội báo (thiện nghiệp- ác nghiệp), tâm loài người phàm phu ở cõi Dục thường bị dính mắc nhiều nhất với Ưu thọ, sau đó là Khổ thọ, rồi Hỷ thọ, mà ít khiLạc thọ, hiếm khi có Xả thọ.

  Ưu thọ là thọ cơ bản nhất trong 5 thọ, bao gồm các cảm giác, cảm nhận, cảm xúc…sanh khởi qua các nổi niềm ưu tư, lo lắng, bất an về bản thân, cuộc sống, sức khỏe, tình cảm, tài sản… của mình, và của gia đình, người thân, người quen, bạn bè mình.

  Khổ thọ bao gồm các cảm giác, cảm nhận, cảm xúc…sanh khởi qua các nổi niềm bức xúc, không được vừa ý về các sự việc vừa nêu trên và vừa về chính bản chất của ưu thọ đã từng trải qua.

  Hỷ thọ bao gồm các cảm giác, cảm nhận, cảm xúc…sanh khởi qua các nổi niềm mừng vui do được vừa ý về các sự việc vừa nêu trên. Hỷ thọ ở cõi Dục có ý nghĩa thường gắn liền và nghiêng về những thọ hưởng vật chất thô tháo nơi nhục thân cùng cảnh trần.

  Lạc thọ bao gồm các cảm giác, cảm nhận, cảm xúc…sanh khởi qua các nổi niềm an vui, sung sướng do được toại ý về các sự việc vừa nêu trên. Lạc thọ ở cõi Dục có ý nghĩa nghiêng về những cảm nhận nội tâm nên sâu sắc, vi tế hơn so với Hỷ thọ.  

  Xả thọ bao gồm cảm giác nhẹ nhàng khinh an sau khi buông bỏ được các cảm thọ nêu trên.

Loài người cõi Dục có thân thể nặng nề, thô phù, trọng trược do chỉ dùng đoạn thực (cách ăn do nhai nghiền, tiêu hóa thức ăn) để nuôi nấng thân tâm sinh trưởng cùng phát triển.

Tâm loài người phàm phu ở cõi Dục dễ bị ô nhiễm theo tham dụcái dục. Tham dục bao gồm các ham muốn sở hữu những sự vật trần cảnh bên ngoài (như tài sản, nhà cửa, ruộng vườn…) và cả các ham muốn thuộc về tâm thức bên trong (như hạnh phúc gia đình- xã hội, cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè, thân hữu)…Ái dục là các ham muốn các sự vật vừa kể trên rồi lại chấp trước mong muốn chúng luôn được thường hằng với ta, bên ta, trong đời sống ta, không được rời xa ta…Do đây, nên tên gọi cõi này là Dục Giới. Theo Duy Thức Học, chính do nơi Dục mà cõi này có ra 2 cảm thọ quan trọng là thọ Ưu (Dục dẫn Ưu) và thọ Hỷ (Dục dẫn Hỷ). Từ đó lại kết thành nền tảng phát sinh 2 Căn Bản Phiền Não tối ư quan trọng là Sân (Ưu sanh Sân) và Tham (Hỷ sanh Tham).

Ý thức của  phàm phu có đầy đủ 51 tâm sở xấu tốt lẫn lộn của Duy Thức Học. Tâm sở chính là tướng trạng biểu hiện của tâm thức khi tâm thức bị ảnh hưởng tác động bởi cảnh trần bên ngoài.  51 món tâm sở này bao gồm:

26 tâm sở Phiền Não (xấu ác) gồm: 6 Căn Bản Phiền Não (tham, sân, si, mạn, nghi, và ác kiến) và 20 Tùy Phiền Não. 20 Tùy Phiền Não lại chia ra: 8 Đại Tùy (trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri), 2 Trung Tùy (vô tàm, vô quí), và 10 Tiểu Tùy (phẩn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiễm, hại, kiêu).

11 tâm sở Thiện (tốt lành) gồm: tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần (tinh tấn), khinh an, bất phóng dật, hành xả (bố thí), bất hại.

Ngoài 37 tâm sở phân định rõ về thiện-ác nêu trên, còn có thêm 14 tâm sở khác bao gồm: 4 tâm sở Bất Định (hối, miên, tầm, tư) và 5 tâm sở Biệt Cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, tuệ);  9 tâm sở này chưa có phân biệt, xác định rõ về thiện hay ác; và sau cùng là 5 tâm sở Biến Hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư) có tính cách rất nguyên sơ,  phổ biếnmọi nơi và mọi lúc, rất bao quát nên phi thiện phi ác.

Tất cả hay chỉ một phần 51 món tâm sở này được sinh khởi và xoay vần lẫn nhau một cách liên tục không dừng nghỉ tạo nên các tướng trạng biểu hiện nơi tâm thức thường ngày nơi cuộc sống  của chúng ta.

Bát Thức Qui Củ Tụng có hai bài tụng mô tả về tánh và tướng của Đệ Lục Ý thức:

(Bài 1st)    

"Tam tánh tam lượng thông tam cảnh

   Tam giới luân thời dị khả tri                

   Tương ưng tâm sở ngũ thập nhất               

   Thiện ác lâm thời biệt phối chi"   

(Tạm dịch: Ba tánh ba lượng thông ba cảnh

                    Ba cõi xoay vòng có thể dễ biết

                    Thuận hợp với năm mươi mốt tâm sở

                    Đến khi gặp thiện ác liền riêng ra)

 

 

(Bài 2nd)

"Tánh, giới , thọ tam hằng chuyển dịch

  Căn , Tùy, Tín đẳng tổng tương liên

  Động thân, phát ngữ, độc vi tối

   Dẫn, mãn, năng chiêu nghiệp lực khiên"

 (Tạm dịch: "Tánh, cõi, thọ cả ba thường lưu chuyển

                       Phiền não và các thiện tâm sở đều liên hệ nhau

                       Cử chỉ nơi thân, lời nói đều từ nơi Ý thức tối hậu

                        Dẫn- mãn- năng chiêu nghiệp lực cũng từ nơi Ý thức)          

Đạo Phật minh định phàm phu Dục Giới nếu qui y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và giử gìn Ngũ Giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) sẽ không còn bị đọa vào 3 đường dữ (Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh). Nếu phàm phu tu Thập Thiện (10 điều thiện lành : không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai chiều, không nói lời ác, không nói lời phù phiếm, không có ý tham, không có ý sân, không có ý si)  tất sẽ được sinh lên các cõi trời Dục Giới.

  Các cõi trời cùng các quả vị tu chứng trong ba cõi đã được đề cập nơi các kinh tạng Pali (Trung Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh, kinh Bát Thành, kinh Tăng Chi, Nhị Khóa Hiệp Giải, Thắng Pháp Tập Yếu Luận,…), kinh Đại Thừa (như kinh Lăng Già, kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Kim Cang, …), và cả Luận Đại Thừa (như Du Già Sư Địa Luận …).

Trời Dục Giới được phân định có 6 cõi từ thấp lên cao là trời Tứ Thiên Vương (còn gọi là Chuyển Luân Vương), trời Đao Lợi (còn gọi là trời Tam Thập Tam vì có 33 tầng trời, mà cao nhất là trời Đế Thích), trời Dạ Ma (còn gọi là trời Thiện Phần hay trời Thời Phân), trời Đâu Suất (còn gọi là trời Tri Túc), trời Hóa Lạc, và trời Tha Hóa Tự Tại. Tầng trời cao nhất của Dục Giới (trời Tha Hóa Tự Tại) là nơi ngự trị của vua Ma Ba Tuần.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm khai thị về các cảnh trời Dục Giới như sau:

"“Anan, các người thế gian chẳng cầu cái thường trụ, chưa thể lìa bỏ được thê thiếp, ân ái, nhưng tâm không buông lung trong tà dâm. Do lắng trong sanh ra sáng suốt, sau khi mạng chung, gần với mặt trời, mặt trăng. Hạng như vậy gọi là Tứ Thiên Vương Thiên.

“Đối với vợ nhà, dâm ái ít ỏi, trong khi tịnh cư chưa được toàn vẹn mùi vị. Sau khi mạng chung, vượt sức sáng của mặt trời, mặt trăng, ở trên đỉnh của nhân gian. Một hạng như vậy, gọi là Đao Lợi Thiên (Tam Thập Tam Thiên).

“Gặp cảnh dục tạm theo, qua rồi không nghĩ nhớ, ở trong cõi nhân gian động ít tĩnh nhiều. Sau khi mạng chung, an trụ sáng rỡ ở trong hư không. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi chiếu chẳng bằng. Các người ấy tự có ánh sáng. Một hạng như vậy, gọi là Tu Diệm Ma Thiên (Thời Phân).

“Luôn luôn yên tĩnh, nhưng khi có cảm xúc đến, chưa thể nghịch hẳn. Sau khi mạng chung, bay lên cõi tinh vi, không giao tiếp với các cảnh nhân-thiên cõi dưới cho đến thời kiếp hoại, tam tai cũng không đến được. Một hạng như vậy gọi là Đâu Suất Đà Thiên (Tri Túc).

“Chính mình không có lòng dâm, đáp ứng với người mà hành sự, trong lúc phô diễn vô vị như sáp. Sau khi mạng chung, sanh vượt vào cõi biến hóa. Một hạng như vậy, gọi là Lạc Biến Hóa Thiên.

“Không có tâm thế gian, chỉ đồng theo thế gianhành sự, trong khi làm việc ấy, suốt thông siêu việt. Sau khi mạng chung, vượt trên tất cả cảnh biến hóa và không biến hóa. Một hạng như vậy, gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên”.

Như thế, thiền định của phàm phu nơi Dục Giớibước đầu thường chú trọng nhiều vào điều hòa và an tỉnh thân tâm. Điều hòa và an tỉnh thân như ngồi ngay thẳng trong không gian yên lặng, hơi thở nhẹ nhàng … Điều hòa và an tỉnh tâm như giử gìn tâm thứctrạng thái thả lỏng, buông bỏ các Ưu thọ,  không còn âu lo, tính toán, nghĩ ngợi lăng xăng theo tham dụcái dục. Các điều này giúp cho thân tâmđiều kiện dễ dàng tạm thời buông xả được các trần cấuquen thuộc dần dà với sự an tỉnh nội tâm. Các thiền vị sơ đẳng này cũng giúp khiến Ý thức giảm bớt lăng xăng theo trần cảnh, cũng giúp bớt đi phần nào các Ưu thọ, Khổ thọ và giúp có thêm chút ít bóng dáng Hỷ thọ, Lạc thọ. Dù vậy, Ý thức hầu như vẫn còn nguyên vẹn nên sau khi xả thiền, sức lực Ý thức chấp vướng vào cảnh trần vẫn còn rất mạnh mẽ. Nhìn chung, phàm phu nơi Thiền Dục Giới đã bắt đầu có niềm tin vượt lên, vượt qua các vui buồn nơi đời sống thế tục để lên đường quay tìm về nơi cội nguồn tâm thức thanh tịnh, xa rời nhục thân (Sắc uẩn) ô trược, lụy phiền. Do công phu tu tập này, hành giả sẽ không còn bị trói buộc, chấp mắc, kết nghiệp nhiều vào nơi nhục thân nữa. Đây có thể được tạm gọi là hành giả đã bắt đầu chập choạng, dò dẫm để có ra những bước sơ khởi cơ bản trong tu tập Thiền Định. Tuy vậy,  tâm thức hành giả còn dễ bị ảnh hưởng bởi những vọng tưởng lăng xăng, bất định cùng những cảm thọ bất an, bất như ý. Vì thế có thể xem là Thiền Dục Giới có 2 đặc điểm sau: (1) tâm thức hành giả đã có ít nhiều nhàm chán về thân tứ đại nơi chính mình cùng những cảnh trạng khổ-vui nơi Dục Giới, và (2) hành giả bắt đầu lay hoay tìm con đường giải thoát ra khỏi Dục Giới, dù đã không còn bị nhiều vướng chấp, bám víu nơi nhục thân tứ đại nhưng chưa thấy rõ con đường giải thoát tâm thức nên dù có cố gắng dụng công thiền định  mà vẫn còn khó biết rõ, còn mù mờ về kết quả tu tập.

Theo Duy Thức Học, phàm phu bắt đầu bước vào đường tu tập là còn ở địa vị Tư Lương, nôm na là mới gom góp hành trang để lên đường, bước trên đường khởi tu, nhưng hành giả chưa thực sự nắm bắt được tâm thức của chính mình, hai bên (Năng và Sở, Chủ và Khách,Tâm Thức và  Cảnh Trần…) vẫn còn nguyên vẹn, chưa được hàng phục và phá bỏ đi. Dù vậy, hành giả nay đã tin biết là cần nên dụng công loại bỏ đi những hư giảquay về nơi đời sống chân thực trong nội tâm. Duy Thức Học gọi tên giai đoạn này là "Khiển Hư Tồn Thực" (trách mắng hư giả, giữ lại chân thực), giai đoạn đầu tiên trong tu tập Duy Thức Hạnh, giai đoạn mong cầu trụ tánh Duy Thức, với 4 câu kệ sau:

"Nãi chí vị khởi thức     (Tạm dịch: Đến lúc chưa khởi rõ thức

 Cầu trụ Duy Thức tánh                    Mong trụ tánh Duy Thức

 Ư nhị thủ tùy miên                           Mà hai thủ còn ngủ ngầm

 Du vị năng phục diệt"                      Do chưa được hàng phục hết).

 

2. Thiền Sắc Giới:

Sắc Giớicảnh giới thuộc về Sắc.  Chữ "Sắc" ở đây có thể được cảm nhận là không còn có vật chất thô phù, thô trược, thô trọng của Dục Giới  mà nay chỉ là sắc tướng sáng rỡ,  quang tướng vi tế, đẹp đẽ, trang nghiêm của Sắc Giới. Đây là cảnh giới thanh tịnh, nhẹ nhàng hơn so với Dục Giới nên dù thân tâm ngũ uẩn vẫn còn, nhưng sắc uẩn không còn là nhục thân thô trược, nặng nề với đầy đủ tham dục, ái dục cảnh trần nữa.

Dưới nhãn quan Phật đạo, nhục thân chỉ là thân tứ đại, được cấu thành từ 4 đại (đất, nước, gió, lửa). Chữ "Đại" có ý nghĩa là rộng lớn. Gọi là 4 đại vì 4 yếu tố vật chất này có hiện diện ở khắp nơi trong vũ trụ, nơi tất cả sinh vật cùng khoáng vật, nơi hữu tình chúng sanh và vô tình chúng sanh theo các trạng thái biểu hiện (thô phù hoặc tinh tế) khác nhau. Nơi Dục Giới, 4 đại hiện diện và biểu hiện ratrạng thái thô phù, thô trược nhất. Càng lên các cõi giới bên trên, 4 đại càng trở nên vi tế, thanh tịnh. Như lên đến Sơ Thiền, địa đại trọng trược sẽ không còn mà bắt đầu thay vào đó là các ánh sáng, các quang tướng đẹp đẽ, trang nghiêm hơn. Đến cõi  Vô Sắc Giới, 4 đại này sẽ chỉ có ở dạng năng lượng nguyên thể, cực kỳ thanh tịnh. Theo Duy Thức Học, 4 đại này được thức A Lại Da kết hợp, bảo tồn, bảo trì dưới dạng thể các khuôn mẫu, đồ hình. Các khuôn mẫu, đồ hình này chính là các chủng tử nghiệp thức được kiến lập từ ba nghiệp cơ bản (thân, khẩu, ý) của chúng sinh trong vô lượng kiếp sống. Thức A Lại Da sẽ theo các khuôn mẫu đồ hình có sẳn này mà xây dựng ra nhục thân của chúng sanh (Chánh Báo) và biểu hiện ra xứ sở (Y Báo) nơi chúng sanh cư trú, sinh sống. Tu tập thiền định trước hết mở ra

Bài viết liên quan

Duy Thức Học (Thích Thiện Hạnh )

PHẬT LỊCH 2561DUY THỨC HỌCBÁT THỨC QUY CỦ TỤNG & DUY THỨC TAM THẬP TỤNGTạo luận: Thế Thân (Vasubandhu) | Hoa dịch: Huyền TrangViệt dịch, giải: Tỷ kheo Thiện HạnhPHẬT HỌC VIỆN KIM QUANG-HUẾ MỤC LỤC Nội dung trang I. Vài nét đại cương về Duy thức học 1. Khởi nguyên 2. Duy thức 3. Tâm và […]

Xem thêm

Vô Trước (Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia)

VÔ TRƯỚCBách khoa toàn thư mở Wikipedia Đại luận sư Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (sa. śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (sa. paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một […]

Xem thêm

Vạn pháp qua cái nhìn của Duy Thức

. Vạn Pháp Qua Cái Nhìn Duy Thức

Xem thêm

Vấn Đề Thức

VẤN ĐỀ THỨCNguyên tác: The Question of ConsciousnessTác giả: Đức Đạt Lai Lạt MaChuyển ngữ: Tuệ Uyển   Niềm vui của việc gặp gở những người ta yêu, nổi buồn của việc mất mát người thân, sự phong phú của của những giấc mơ đầy sức sống, sự an bình của những bước chân qua […]

Xem thêm

Vấn Đáp Về Tâm Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: VẤN ĐÁP VỀ TÂM THỨCTác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Tuệ Uyển chuyển ngữ – 15/05/2011 HỎI: Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế […]

Xem thêm