Tổng Luận Quan Điểm Niết-Bàn Theo Luận Thành Duy Thức

TỔNG LUẬN QUAN ĐIỂM NIẾT-BÀN
THEO LUẬN THÀNH DUY THỨC
Phước Nguyên
******

I/TIỂU DẪN

blankThành Duy Thức Luận trình bày hai quả chuyển y là Đại Niết-bàn và Đại Bồ Đề; Do đoạn trừ hết thảy các chướng mà thành tựu hai quả vị thù thắng này. Lại do ly khai phiền não chướng vốn dẫn độ đến tái sinhđạt được chân giải thoát. Giải thoát, Tây vực Phạn âm gọi là ba-lị-nặc-phược-nẫm; Từ Sanskrit là parinirvāam, bát niết- bàn, Niết-bàn viên diệu, hay viên mãn tịch diệt[1]. Ở đây, trong hai quả chuyển y, chúng ta chưa vội đề cập đến quả đại Bồ-đềchủ đích chỉ bàn đến Niết-bàn hay quả Đại Niết-bàn.

Về ngữ nguyên Sanskrit của từ Niết-bàn, chúng ta đã phân tích nhiều, chúng ta thể lặp lại tóm tắt như sau:

Niết-bàn phiên âm từ Nirvāa hoặc tiếng Pāli Nibbāna, từ Prakrit cổ của nó được tìm thấyivvāaNirvāa nó là phân từ thụ động quá khứ của động từ nicăn : có nghĩa là “đã, hoàn thành, hoàn tất…” + Nirvāti với ý nghĩa nghĩa "thổi tắt", "dập tắt" (một ngọn lửa), như vậy thì Nirvāa mang nghĩa đã bị dập tắt, thổi tắt ở đây muốn chỉ cho dập tắt lửa phiền não, hay thổi tắt lửa ái dục v.v..

Theo luật Samdhi ngữ pháp Sanskrit, làm thay đổi luật cách viết Nis khi phối với a, bắt đầu bằng “v”, Nis —> Nir, và cũng tùy vào những trường hợp khác mà Nis đổi thành Ni, Nih v.v..

Nirvāa có tiền tố phủ định từ là Nir (không, chẳng, đi ra khỏi)  + a là vị biến của vane, được thành lập từ động từ căn van: khu rừng, bụi cây, gỗ; và động từ căn van cũng có nghĩa là dục vọng, khát ái, them khát nhục dục v.v.. nên Niết-bàn được hiểu là trạng thái ra khỏi khu rừng của vô minh, phiền não, gỗ ở đây là dụ cho năm thủ uẩn nên tức là người không còn bị ràng buộc bởi năm thủ uẩn, bởi các giới uẩn và không còn bị chi phối bởi dục vọng, không còn bị khát ái điều khiển nữa.

a nó còn đi từ động từ căn vā: ở dạng quá khứ phân từ, ngoài nghĩa là thổi, nó còn có nghĩa là phát ra mùi (to emit an odour), hay cũng có nghĩa là bị tỏa, bị khuếch tán (be wafted or diffused); động từ căn :  nó cũng có nghĩa là may, dệt; và tất cả ý nghĩa của khi nó bắt đầu bằng Nis một từ chuyên dùng để phủ định: không, tắt, không còn, chẳng còn, v.v.. Nên Nirvāanghĩa không còn dệt nên sinh tử, may nên mộng tưởng đảo điên, là chấm dứt dập tắp hoàn toàn ngọn lửa và mùi vị khát ái, không còn tỏa ra, khuếch tán ra những phiền não nữa  v.v.. Na cũng thuộc thể loại phủ định từ nên vāna: có nghĩa là không còn dệt nên phiền não nữa.

Nir-căn vŗ, có nghĩa là "phát hiện ra, thấu hiểu được, nhìn rõ được v.v..", nên Niết-bàn là thấu rõ được chân như, phát hiện ra chân lý, chứ không hề mang ý nghĩa là “hư vô” “trống trơn”, theo ý nghĩa nhị nguyên

Còn trong Pāli ngữ Nibbāna được thành lập từ Ni (=Na) là bất phân từ, không biến cách: có nghĩa không hay không có, chức năng làm tiền tố phủ định từ có nghĩa là ly khai, tách rời, ra khỏi v.v… Bbāna ái dục, dục vọng, nên trong văn hệ Pāli Niết-bàn hàm nghĩa ly khai khỏi ái dục, không còn ham muốn, lìa xa mong cầu ảo tưởng.

Nên trong Sanskrit từ Nirvāa hay Nibbāna của Pāli, rất đa nghĩa, Hán hay Anh dịch không thể có một từ nào cân xứng được với những ý nghĩa nghĩa phong phú như vậy. Qua đó mà thuật ngữ nirvāa cũng được Hán dịch nghĩa là Diệt 滅, Diệt tận 滅盡, Diệt độ 滅度, Tịch diệt 寂滅, Bất sinh不生, Viên tịch 圓 寂, và vì sự tịch diệt được hiểu là mục đích tối cao trong tiến trình giải thoát, nên nirvāa cũng được dịch ý là Giải thoát 解脫, Vô vi 無爲, An lạc 安樂 v.v…”[2]

Từ những ý nghĩa sơ khởi ban đầu như vậy, chúng ta thấy rằng không thể có trường hợp: người có tà kiến hay ngã kiến mà lại thể chứng được Niết-bàn, trái lại người có chánh kiến lại khiến cho trầm luân, lặn chìm trong sinh tử. Tuy nhiên, thân và tâm của các loại chúng sinh tương tục, do năng lực của nghiệp phiền nãoluân chuyển các cõi thú, và do nhàm tởm khổ mà mong cầu thú hướng Niết-bàn.


II/TỔNG LUẬN

Đề-bà (Ārya- Deva), Ngoại đạo Tiểu thừa Niết-bàn luận nói: “Ma-hê-thủ-la luận sư nói như vầy, quả là cái được tác thành bởi Na-la-diên (Nārāyaa). Phạm thiên là nhân. Ma-hê-thủ-la là một thể mà có ba phần; đó là, Phạm thiên, Na-la-diên và Ma-hê-thủ-la. Chúa cõi đất là Ma-hê-thủ-la. Trong ba cõi, hết thảy mọi vật có sinh mạng hay không có sinh mạng thảy đều do Ma-hê-thủ-la thiên sinh. Nơi thân của Ma-hê-thủ-la, đầu là hư không, thân là đất, nước tiểu là nước, phân là núi, sâu trùng trong ruột là các loại chúng sinh, mạng là gió, hơi ấm là lửa, nghiệp là tội phước… Tự Tại Thiênnguyên nhân của sinh diệt. Tất cả sinh từ Tự Tại Thiên, diệt do Tự Tại thiên.”[3]

Thành Duy Thức trình bày quan điểm của các phái ngoại đạo, chấp có một Đại Phạm, thời, phương, bản tế, tự nhiên, hư không, ngã v.v.. Các học thuyết ngoài Phật giáo cho rằng những cái này thường trú, thực hữu, đủ các phẩm tính, sinh sản tất cả các pháp. Chúng đều bị Thành Duy Thức bác bỏ. Từ đó chúng ta thấy rằng, ngoại đạo nêu ra nhiều quan điểm biện chứng sai lầm về Niết-bàn bị Duy-thức bác bỏ, có thể kể đại khái như:

Luận sư Vi-đà (Vēda) nói, từ rốn của Thần Na-la-diên (Nārāyaa) sinh ra một bông sen lớn. Từ bông sen sinh ra Phạm thiên Tổ ông. Vị Phạm thiên này tạo tác nên hết thảy các loài có mạng và không có mạng. Từ miệng Phạm thiên sinh ra những người thuộc giai cấp bà-la-môn; từ hai vai, giai cấp sát-đế-lị; từ hai bắp vế, tỳ-xá-xà; từ gót chân, thủ-đà-la. Tất cả đại địagiới trường tu phước. Nơi đó sinh các loại hoa cỏ làm phẩm vật cúng dường. Lại hoá làm thú rừng, gia súc các thứ. Nơi giới trường, giết hại chúng để hiến tế Phạm thiên thì được sinh lên cõi kia gọi là cõi Niết-bàn[4].

Ngoại đạo phương luận sư nói, tối sơ sinh các phương (diśatā). Từ các phương sinh người đời. Từ người đời sinh trời đất. Trời đất diệt tận quay về nơi kia gọi là cõi Niết-bàn.”[5]

Ngoại đạo Khẩu lực luận sư nói, hư khôngnguyên nhân của vạn vật. Thoạt kỳ thủy, sinh hư không. Từ hư không sinh gió. Từ gió sinh lửa. Từ lửa sinh hơi ấm. Từ hơi ấm sinh nước. Nước đông cứng thành đất. Từ đất sinh các thứ cỏ thuốc. Từ cây cỏ thuốc sinh ngũ cốc. Từ ngũ cốc sinh mạng. Loài có mạng sau khi ăn, chết, quay trở về hư không; đó gọi là Niết-bàn.”[6]

Giới, từ vô thủy đến nay, là sở y của hết thảy pháp: vô thủy thời lai giới, nhất thiết pháp đẳng y. Do thử hữu chư thú, cập Niết-bàn chứng đắc 無始時 來界, 一切法等依, 由此有諸趣, 及涅槃證得[7]. Cho nên, Giới ở đây có nghĩa là nhân hay chủng tử. Thể của chủng tử, từ vô thủy đến nay, tương tục không đứt tuyệt; tính tuy tồn tại từ vô thủy, nhưng do sự huân tập sai biệt bởi nghiệp tịnh và bất tịnh mới phát sinh. Do quan hệ với quả dị thục được tiếp nhận thường xuyên, nó được nói là mới[8]. Thật vậy, tự tính của các chủng tử, từ vô thủy đến nay, tuy là bản hữu, nhưng do cái mới được huân tập như là nhiễm hay tịnh mà phát khởi; Các loại hữu tình, từ vô thủy đến nay, nếu thuộc pháp bát-Niết-bàn, tất cả thảy đều đầy đủ. Nếu không thuộc pháp bát-Niết-bàn, khuyết chủng tử của ba loại bồ-đề[9].

Sự sai biệt của năm chủng tính bản lai của chúng sinh không do chủng tử vô lậu tồn tại hay không tồn tại. Nhưng chủng tính ấy chỉ y trên trường hợp có có hai chướng là: phiền não chướng (kleśa-āvaraa) và sở tri chướng (jñeya-āvaraa) hay không có hai chướng này mà thi thiết kiến lập. Như Du-già trình bày giả thi thiết ở nơi cảnh vực chân nhưhoàn toànchủng tử của hai chướng, ở đó lập chủng tính của pháp không Bát-niết-bàn. Nếu hoàn toànchủng tử của sở tri chướng chứ không phải phiền não chướng, ở đây một phần lập chủng tính Thanh văn, một phần lập chủng tính Độc giác. Nếu hoàn toàn không có chủng tử của cả hai chướng, tức lập nó làm chủng tính Như lai. Cho nên, biết rằng sự sai biệt của chủng tính bản lai y trên chướng mà thiết lập chứ không phải do chủng tử vô lậu[10].

Chủng tínhchủng tử là nói y trên sự chướng ngại mà thiết lập sự sai biệt về chủng tính, ý muốn nói rõ chủng tử vô lậu tồn tại hay không tồn tại: “Lại nữa, tâm xuất thế trước kia chưa hề được tu tập cho nên sự huân tập của nó hoàn toàn không có. Nếu khônghuân tập, tâm ấy xuất hiện từ hạt giống nào? Ở đây nên trả lời, tâm ấy xuất hiện từ chủng tử được huân tập bởi do nghe trực tiếp nguồn nước pháp giới tối thanh tịnh.”[11] Nếu hoàn toàn không tồn tại chủng tử vô lậu, chủng tử của hai chướng kia vĩnh viễn không thể bị trừ hại, y theo đó là lập pháp phi Niết-bàn. Nếu chỉ tồn tại chủng tử vô lậu của hai thừa, sở tri chướng kia vĩnh viễn không thể bị trừ hại, theo đó một phần lập chủng tính Thanh văn, một phần lập chủng tính Độc giác. Nếu cũng tồn tại cả chủng tử vô lậu của Phật, chủng tử của hai chướng kia đều có thể vĩnh viễn bị trừ hại, theo đó lập chủng tính Như lai[12].

Tam Thập Tụng nói: 不可知執受處了常與觸 không thể biết sự chấp thọ, xứ, liễu của nó; câu này, chúng ta có thể tìm được một số câu tương đương với nó:相及境不可分別一體無[13], tướng và cảnh, không thể phân biệt; nhất thể, không dị biệt. Từ Sanskrit của nó là: “asaviditakopādisthānavijñaptika ca tat/”; Tạng ngữ đọc là: de ni len pa dag da gnas/ rnam par rig pa mi rig te/ Teramoto: không thể biết sự chấp thọ, và sự liễu biệt về xứ của nó; H. H. Jacobi dịch là: “in ihm bleibt sowohl das Material (upādi) wie die Präsentation eines Standorts unbewußt”. Các bản này đều đọc: asamviditopādi/(asaviditaka) sathānavijñaptika; nghĩa là trong bản Hán, đọc là: bất khả tri chấp thọ 不可知執受, và bất khả tri xứ-liễu 不可知處了. Trong các bản dịch này, sthānavijñapti được hiểu là hoạt động nhận thức của A-lại-da về y xứ của nó. Hoạt động ấy không thể nhận biết được.  Vì vậy, đây là hiểu theo giải thích của Sthiramati: “asaviditaka upādir yasmin asaviditakāvasthāvijñaptir yasmin tad ālaya vijñānam asaviditakopādisthāna vijñaptika. Trong thức a-lại-da, chấp thọ (upādi) của nó là bất khả tri, và nhận thức về y xứ của nó cũng bất khả tri. Về xứ liễu biệt, Sthiramati giải thích: “sthānavijñaptir bhājanalokasaniveśavijñapti”: nhận thức về (thông tri về) y xứ, đó là nhận thức (thông tri) về vị trí (trạng huống) của khí thế gian. Ở đây, chúng ta nói đến chấp thọ có hai loại đó là các chủng tử và thân có căn.

Chấp thọ 執受 từ Sanskrit của nó là upādi. Sthiramati: “upādānam upādi sa punar ātmādivikalpavāsanā rūpādidharmavikalpavāsanā ca”, chấp thọ tức thủ (chấp thủ, trong thủ uẩn). Nó là tập khí của phân biệt ngã chấptập khí của phân biệt pháp chấp; Upādi được dùng trong từ phức hợp: sa-upādi-śea-nirvāa, hữu dư y Niết-bàn – Đại Tỳ-bà-sa giải thích: “Thế nào là hữu dư y Niết-bàn giới? A-la-hán đã đoạn tận các lậu, nhưng thọ mạng vần còn, dòng tương tuc của sắc do đại chủng tạo vẫn chưa bị cắt đứt, dòng tương tục của tâm y nơi thân của năm căn mà chuyển…”[14] Theo giải thích này, upādi dược hiểu là căn bản của sự sống, hay sinh y, là năng lực duy trì dòng tương tục của căn thân không để đứt đoạn. Thuật ký nói: “Chấp, nghĩa là nhiếp trì 攝義持義 (thâu tóm và duy trì). Thọ, nghĩa là lãnh thọ và giác tri 領義覺義. Thâu tóm vào tự thể, duy trì không để huỷ hoại, cọng đồng an nguy là lãnh thọ, để làm phát sinh cảm giác. Cho nên, nói là chấp thọ.”[15] Giải thích này hiểu chấp thọupatta, trong từ phức hợp upatta-mahābhūta, (hữu) chấp thọ đại chủng, chỉ vật chất hữu cơ, có khả năng phát sinh cảm giác.

Giải thích của Hộ Pháp trình bày trong Thuật ký, duy chỉ có thể biến thái thành tợ ảnh là y xứ của căn; vì căn của tha thân chúng không phải là sở dụng của tự thân. Điều mà Biện trung biên nói: “Xuất hiện ảnh tợ như là năm căn của tự thân và tha thân”, đó là nói tự thức và tha thức tự biến riêng biệt. Cho nên, khi tái sinh vào địa giới khác hay nhập Bát-niết-bàn, thi hài còn lại của vị ấy vẫn được thấy còn tiếp nối tồn tại.

Vì “Quyết trạch phần” nêu rõ bốn trường hợp:

1. Thành tựu a-lại-da chứ không chuyển thức: các trường hợp của trạng thái vô tâm vị.

2. Thành tựu chuyển thức, không a-lại-da: A-la-hán, Độc giác, Bồ tát hàng bất thối, và các Như lai trụ hữu tâm vị.

3. Thành tựu cả hai: các hạng hữu tình còn lại trụ hữu tâm vị.

4. Không cả hai: A-la-hán, Độc giác, Bồ tát bất thối và các Như lai nhập diệt tận định, trụ vô dư y Niết-bàn giới[16].

Các vị A-la-hán, Độc giác Như lai, thảy đều không thành tựu a-lại-da. Tập luận cũng nói: “Các Bồ tát, sau khi đã thành tựu hiện quán Thánh đế, trong giai đoạn tu đạo của mười địa, chỉ tu tập phần đối trị sở tri chướng mà không cần tu tập đối trị phần của phiền não chướng. Khi chứng đắc bồ đề, phiền não chướngsở tri chướng nhất loạt bị đoạn trừ, đốn chứng thành A-la-hán và Như lai”[17]. Thật vậy, các Bồ tát khi thành đạt quả bồ đề, đồng loạt các phiền nãosở tri chướng đều bị đoạn trừ, thành A-la-hán và Như lai.

Song cũng theo Thuật ký, giải thích của nhóm Luận sư thứ hai (Hộ Pháp), A-la-hán đoạn trừ các phiền não thuộc loại thô trọng trong thức này, dứt sạch một cách rốt ráo, không còn chấp tàng thức A-lại-da như là tự ngã nội tại nữa; do A-lại-da vĩnh viễn tiêu thất như thế nên gọi là xả, chứ không phải xả toàn bộ thể của thức thứ tám. Không nên nói rằng A-la-hán không có tự thể của thức thứ tám, không có thức duy trì chủng tử, lúc bấy giờ liền thể nhập Niết-bàn vô dư. Và Thể của thức dị thục được xả khi Bồ tắt sắp đạt được bồ đề. Thanh văn, Độc giác khi nhập Niết-bàn vô dư y cũng xả. Thể của thức vô cấu không khi nào bị xả, vì sự lợi lạc cho chúng sinh không bao giờ cùng tận.

Chứng minh về sự tồn tại của căn bản thức, Thành Duy Thức dẫn Đại thừa A-tì-đạt-ma như sau: “Giới, từ vô thủy đến nay, là sở y của hết thảy pháp; do tồn tại cái này mà có các cõi thú hưóng và có sự chứng đắc Niết-bàn.”; chúng ta cũng có thể tìm được những đoạn tương tự từ kinh luận khác: “無始時來界/一切法等依/由此有諸趣/及涅槃證得” [18] vô thủy thời lai giới, nhất thiết pháp đẳng y, do thử hữu chư thú, cập Niết-bàn chứng đắc;  Chỗ khác kinh cũng nói: “無始世來性/作諸法依止/依性有諸道/及證涅槃果”[19]; trong đó, “tính” chỉ cho Như lai tạng.  Các hoặc, nghiệp, sinh đều y chỉ nơi thưc này; đó là tác dụng sở yduy trì cho dòng lưu chuyển: “Lưu chuyển (pravtti) là sự thọ sinh tái diễn.  Hoàn diệt (nivtti) là sự thú hướng đến Niêt-bàn.”[20] Bốn hình thái lưu chuyển và một hình thái hoàn diệt của a-lại-da:

1. Sở duyên chuyển tướng, vin vào đối tượng nội giớichấp thọngoại giớikhí thế gian mà vận chuyển.

2. Tương ưng chuyển tướng, hằng tương ưng với năm biến hành.

3. Duyên tính chuyển tướng, vận chuyển theo điều kiện tương tác.

4. Câu chuyển chuyển tướng, tồn tại đồng thời với các chuyển thức và cùng vận chuyển. Một hình thái hoàn diệt: nó duy trì chủng tử thiện của thuận giải thoát phàn và thuận quyết trạch phần[21].

Thuật ký dẫn: “Du-già 51 nói, hoàn tức Đạo đế; diệt tức Diệt đế.” Và Huyền Tráng cũng giải thích “Có sự chứng đắc Niết-bàn”:  do có thức này nên có sự chứng đắc Niết-bàn. Nghĩa là, do do có thức thứ tám để duy trì các pháp thuận chiều hoàn diệt khiến cho người tu hành chứng đắc Niết-bàn. Trong đó chỉ đề cập con đường (đạo) dẫn đến chứng đắc. Vì Niết-bàn không y chỉ trên thức này mà tồn tại. Hoăc đây chỉ nói đến Niết-bàn như là đối tượng chứng đắc; vì đó là mục đích nhắm đến của người tu hành. Hoặc đây đề cập cả hai, Niết-bàn và đạo; vì cả hai đều thuộc phẩm loại hoàn diệt. Theo đó, từ “Niết-bàn” chỉ cho diệt được chứng; và từ “chứng đắc” sau đó chỉ rõ con đường (đạo) dẫn đến chứng đắc. Do con đường dẫn đến đoạn trừ mà đoạn trừ các hoặc (phiền não) cần được đoạn trừ; cho đến giai đoạn rốt ráo tận trừ, tổng hợp lạithành tựu Niết-bàn. Cái đoạn trừ và cái bị đoạn trừ, cái chứng đắc và cái được chứng đắc, thảy đềy y trên thức này; đó chính là tác dụng y chỉduy trì cho hoàn diệt. Thượng tọa bộ cho rằng: tâm và tâm sở sinh diệt diễn ra hai thời trong một sát na hiện tại. Thời hai nhưng thể là một. Diệt là cái sắp diệt[22].  

Mặt khác, tự tính của thức này vốn hằng hữu từ vô thủy và nó làm chỗ y chỉ cho tổng thể hay cá biệt, Nhất thiết pháp, chỉ tổng thể. Chư thú và Niết-bàn, chỉ cá biệt. Pháp tạp nhiễm, đó là khổ và tập đế, tức đích thú hướng là sinh, cái dẫn đến các cõi thú là hoặc và nghiệp. Pháp thanh tịnh, đó là diệt và đạo đế; tức Niết-bàn được chứng và Đạo là con đường dẫn đến chứng đắc. Cả hai loại pháp đều y thức này mà tồn tại, vì theo lý mà nói thì không thể y các chuyển thức.
blank

Vô tính 無性, hay vô chủng tính; Sanskrit gọi là agotra, không thuộc dòng họ Thánh, không thể chứng Niết-bàn. Hữu tình thuộc hạng vô tính không thể tận cùng đáy sâu của nó nên nói là “cực kỳ sâu thẳm.” Hạng chủng tính xu hướng tịch diệt không thể thông suốt được nó, nên nói là “cực kỳ vi tế.” Nó là chủng tử chân thực của tất cả pháp. Khi bị kích động bởi duyên, nó dấy lên sóng chuyển thức, hằng chảy xiết không gián đoạn nên nói là “dòng thác lũ”.

Hai sát-na không cùng tồn tại nên không tương ưng. Do không tương ứng nhau nên không có tính chất huân tập và bị huân tập[23]. Bởi vì, tự loại của chúng đã không có huân tập, làm sao có thể

Bài viết liên quan

Duy Thức Học (Thích Thiện Hạnh )

PHẬT LỊCH 2561DUY THỨC HỌCBÁT THỨC QUY CỦ TỤNG & DUY THỨC TAM THẬP TỤNGTạo luận: Thế Thân (Vasubandhu) | Hoa dịch: Huyền TrangViệt dịch, giải: Tỷ kheo Thiện HạnhPHẬT HỌC VIỆN KIM QUANG-HUẾ MỤC LỤC Nội dung trang I. Vài nét đại cương về Duy thức học 1. Khởi nguyên 2. Duy thức 3. Tâm và […]

Xem thêm

Vô Trước (Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia)

VÔ TRƯỚCBách khoa toàn thư mở Wikipedia Đại luận sư Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (sa. śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (sa. paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một […]

Xem thêm

Vạn pháp qua cái nhìn của Duy Thức

. Vạn Pháp Qua Cái Nhìn Duy Thức

Xem thêm

Vấn Đề Thức

VẤN ĐỀ THỨCNguyên tác: The Question of ConsciousnessTác giả: Đức Đạt Lai Lạt MaChuyển ngữ: Tuệ Uyển   Niềm vui của việc gặp gở những người ta yêu, nổi buồn của việc mất mát người thân, sự phong phú của của những giấc mơ đầy sức sống, sự an bình của những bước chân qua […]

Xem thêm

Vấn Đáp Về Tâm Thức

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: VẤN ĐÁP VỀ TÂM THỨCTác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Tuệ Uyển chuyển ngữ – 15/05/2011 HỎI: Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế […]

Xem thêm